XIN HÃY HIỂU ĐÚNG KIPLING!

(Góp phần bàn về quan hệ Đông Tây)

 

Xưa nay, khi bàn về sự khác biệt giữa Đông và Tây, câu thơ sau của Kipling, nhà văn Anh đoạt giải Nobel, thường được trích dẫn: “Ôi, Đông là Đông, Tây là Tây, và hai phía không bao giờ gặp mặt”.Nhưng có thật Kipling quan niệm hai nền văn hóa Đông - Tây khác biệt đến mức, chúng không thể hòa nhập được với nhau hay không?

Tuần báo Văn Nghệ của Hội nhà văn Việt Nam, ngày 29/3/2008, có bài viết rất thú vị Phương Đông - Phương Tây: Từ một bài thơ, suy nghĩ về một vấn đề không nhỏ của Nguyễn Văn Dân nhằm góp phần giải đáp câu hỏi nói trên. Bản thân người viết bài này cũng suy nghĩ nhiều về sự mối quan hệ Đông - Tây và từng đưa ra giả thuyết tam đoạn của nhận thức nhân loại để giải thích sự khác biệt phương Đông tổng hợp - phương Tây phân tích (nhận thức của nhân loại bao gồm ba mức: tổng hợp sơ bộ, phân tích và  tổng hợp chung kết; và mức tổng hợp chung kết của một giai đoạn nhận thức sẽ là mức tổng hợp sơ bộ của giai đoạn nhận thức tiếp sau, theo đúng qui luật phát triển đi lên kiểu xoáy ốc của triết học). Theo đó thì phương Đông mới ở mức tổng hợp sơ bộ, khi chỉ khảo sát mọi vấn đề trên các nét sơ khai, trực quan và cảm tính. Trong khi đó, nhờ khoa học hiện đại, phương Tây đã vươn tới mức phân tích, thậm chí mức tổng hợp chung kết trong một số lĩnh vực, như các quan niệm về nguồn gốc vũ trụ hay tiến hóa sự sống.

Trong bài viết nói trên, Nguyễn Văn Dân đặt vấn đề đúng đắn rằng, sự khác biệt Đông Tây không nằm ở sinh học hay tự nhiên, mà ở môi trường hay giáo dục (các cặp phạm trù sinh học hay môi trường, tự nhiên hay giáo dục về bản chất con người). Và ông cho rằng, yếu tố đô thị hóa sớm khiến phương Tây thiên về tư duy lý tính, trong lúc văn hóa làng xã khiến phương Đông thiên về cảm tính. Ngoài ra các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo và giáo dục cũng góp phần làm nên sự khác biệt.

Cần nhấn mạnh rằng, đó là những luận giải hợp lý. Có thể chưa đầy đủ, nhưng chắc chắn chúng đều có đóng góp không ít thì nhiều vào sự tương đồng và khác biệt giữa Đông và Tây. Để bàn thêm về vấn đề rất phức tạp này, người viết bài này xin trình bày một số suy nghĩ như sau:

Về văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp:

Cho tới các thế kỷ XIV - XV, văn minh nông nghiệp phương Đông không hề thua kém phương Tây. Thậm chí Trung Quốc thời Minh đáng được xếp đầu thế giới về phát triển. Tiền giấy do Marco Polo mang từ Trung Quốc về từng gây kinh ngạc cả châu Âu thế kỷ XIV. Đầu thế kỷ XV, hạm đội Trịnh Hòa có thuyền vượt biển kích thước hàng trăm mét, với nhân lực gần 30.000 người, từng đi tới tận Nam Phi. Nếu đặt cạnh hạm đội kỳ vĩ đó, mấy con tàu bé tí mà Columbus dùng để thám hiểm thế giới nửa thế kỷ sau chỉ đáng làm trò cười! Tứ Đại Phát Minh (thuốc súng, giấy, nghề in và la bàn) càng tô điểm thêm cho sự vượt trội về công nghệ.

...

Theo Kipling, không hề có sự chia cắt giữa hai nền văn hóa Đông và Tây

Cán cân so sánh ngả dần về Tây khi cuộc cách mạng khoa học khởi đầu vào thế kỷ XVI và đơm hoa kết trái vào thế kỷ XVII. Nó đặt cơ sở vật chất và tinh thần cho cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, mà động cơ hơi nước của James Watt chính là động lực công nghệ đầu tiên và quan trọng bậc nhất. Quá trình công nghiệp hóa tiếp theo dẫn tới những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa tại Anh, châu Âu và Bắc Mỹ. Từ đó xuất hiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, với sức mạnh vật chất chưa từng có trong lịch sử loài người. Trên cơ sở đó, văn minh hậu công nghiệp nửa cuối thế kỷ XX càng làm bức tranh thêm rõ nét. Nói cách khác, sự vượt trội của phương Tây bắt nguồn trực tiếp từ sự hình thành và phát triển của khoa học hiện đại cùng những thành tựu công nghệ kèm theo, cho dù khoa học sơ khai phương Đông, như tại Trung Quốc hay Ấn Độ, không hề thua kém phương Tây.

Quan niệm khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định sự khác biệt từ thế kỷ XVII sẽ dẫn ngay tới câu hỏi, tại sao khoa học hiện đại không xuất hiện tại phương Đông, cho dù Tứ Đại Phát Minh từng gây kinh ngạc phương Tây và văn minh Trung Hoa có lúc đứng đầu thế giới? Đó là câu hỏi mà có lẽ không một nhà nghiên cứu riêng biệt nào có thể trả lời được. Để giải đáp, cần một cố gắng tổng hợp trên tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của nhiều nhà nghiên cứu.

Về tín ngưỡng và tôn giáo:

Một số nhà khoa học cho rằng, khoa học xuất hiện tại phương Tây vì tôn giáo phương Tây, cụ thể là Thiên chúa giáo, quan niệm Thượng Đế tạo ra thế giới và điều khiển nó bằng các quy luật. Như một hệ quả, các học giả châu Âu (thời Trung cổ thường là giới tu sĩ) cố gắng tìm hiểu các quy luật đó nhằm tôn vinh đấng sáng tạo. Và ngược đời thay, chính một số hoạt động như thế đã góp phần tạo cơ sở cho các phát kiến khoa học. Đó là lý do hầu như chỉ trong Thiên chúa giáo, tu sĩ mới có thể là nhà khoa học thực thụ, mà thánh Augustine (các quan niệm về thời gian từ thế kỷ thứ V không hề lạc hậu so với kiến thức vật lý hiện đại) hay mục sư Lemaitre (có nhiều đóng góp trong thuyết Vụ nổ lớn về khởi nguyên vũ trụ) là những minh họa điển hình.

Hầu như các tôn giáo phương Đông không có quan niệm về đấng sáng tạo tối cao như vậy, mà tập trung chủ yếu vào các hành vi cá nhân và quan hệ cộng đồng, tức tập trung vào các vấn đề xã hội. Khổng tử từng quan niệm, nên giữ thái độ kính nhi viễn chi (kính cẩn mà tránh ra xa) đối với thánh thần và ma quỷ, chỉ bàn chuyện người chứ không bàn chuyện quỷ thần. Nếu biết rằng thánh thần và ma quỷ chính là các thế lực quản lý vũ trụ, tức các quy luật điều khiển tự nhiên, có thể hiểu tại sao trên khía cạnh nhận thức luận, khoa học hiện đại khó xuất hiện tại phương Đông.

Về yếu tố địa chính trị:

Theo Jared Diamond, tác giả bộ ba tác phẩm nổi tiếng Loài tinh tinh thứ baSúng, vi trùng và thép; và Sụp đổ về bản chất con người, sự hình thành và sụp đổ của các nền văn minh, sự khác biệt trong địa lý giữa châu Âu và Trung Quốc dẫn tới cách tổ chức xã hội và các thể chế chính trị khác nhau. Và điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành khoa học hiện đại và những phát triển công nghệ kèm theo.

Địa lý Trung Quốc không có sự khác biệt lớn giữa các vùng, tạo điều kiện cho sự ra đời các đế chế có tính tập quyền cao độ. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước vào năm 221 trước CN, nói chung Trung Quốc nằm dưới sự cai trị của một nhà nước phong kiến tập quyền cao độ, trừ một số giai đoạn phân chia không dài. Bên cạnh đó, nền nông nghiệp dựa trên việc trị thủy hai con sông Trường Giang và Hoàng Hà càng tạo thuận lợi cho sự tập trung quyền lực.

Bản thân sự tập quyền là một trạng thái lưỡng nguyên: nó trở thành tích cực khi nhà cầm quyền có chính sách tốt (như chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình); và là yếu tố tiêu cực khi các quyết sách từ thượng tầng không phù hợp với cuộc sống (như Cách mạng văn hóa). Đầu thế kỷ XV, nó là yếu tố cản trở sự phát triển công nghệ tại Trung Quốc, mà minh chứng là cuộc đấu tranh nội bộ trong giới cầm quyền đã chấm dứt sự hoạt động của hạm đội từng đứng đầu thế giới, nhất là sau cái chết của Trịnh Hòa năm 1433.

Trong khi đó tại châu Âu, sự khác biệt rõ rệt về địa lý giữa các vùng không cho phép hình thành các nhà nước phong kiến tập quyền. Thời Phục Hưng, bên cạnh một số nước lớn là hàng loạt tiểu quốc, một số tồn tại cho tới tận ngày nay. Đồng thời nền nông nghiệp dựa trên mưa tự nhiên, chứ không dựa trên hệ thống thủy lợi như Trung Quốc, càng khiến các đế chế tập quyền thiếu cơ sở để hình thành. Các quốc gia này hợp tác và cạnh tranh nhau, giúp tư tưởng khoa học và phát minh công nghệ có điều kiện sinh sôi nảy nở. Nếu bị hạn chế nơi này thì chúng có thể phát triển nơi khác, điều không thể có trong một thể chế chính trị tập quyền. Nói cách khác, sự phân tán có mức độ về chính trị là yếu tố tích cực đối với khoa học hiện đại buổi sơ khai. Chẳng hạn Columbus là người Ý nhưng nguyện trung thành với công tước Anjou của Pháp, sau đó với vua Bồ Đào Nha. Khi vua Bồ Đào Nha từ chối cấp tàu thám hiểm thế giới, ông lần lượt đề nghị công tước Medina-Sedonia, bá tước Medina-Celi, trước khi được vua và hoàng hậu Tây Ban Nha đồng ý. Nếu châu Âu là một đế chế tập quyền dưới sự cai trị của ba vị vua chúa đầu tiên, hẳn cuộc chinh phục Tân Thế giới đã chết từ trong trứng.

Vậy thể chế càng phi tập quyền thì càng tốt? Không phải như vậy, và Ấn Độ là trường hợp ngược với Trung Quốc. Ấn Độ bị phân chia về chính trị và đẳng cấp xã hội đến mức, nó không thể tập trung được sức mạnh vật chất và tinh thần đủ mạnh cho một thay đổi lớn như hình thành và phát triển khoa học hiện đại. Nói cách khác, ngược với sự tập quyền cao độ tại Trung Quốc hay sự phân mảnh thái quá tại Ấn Độ, chính sự phân tán về chính trị ở mức độ vừa đủ tại châu Âu là một trong những điều kiện thuận lợi để khoa học hiện đại hình thành và phát triển. Đó là lý do Diamond đưa ra nguyên lý phân mảnh tối ưu để giải thích sự khác biệt giữa châu Âu và Trung Quốc hay Ấn Độ.

Về mối liên hệ giữa thể chế chính trị và sự phát triển tư tưởng:

Một số học giả không coi trọng các yếu tố địa chính trị như trên. Họ cho rằng các yếu tố văn hóa có vai trò quyết định hơn. Chẳng hạn xã hội nông nghiệp không coi trọng sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành (yếu tố sống còn của khoa học) hay Khổng giáo không khuyến khích sự tìm tòi chân lý khách quan và khám phá tự nhiên. Vậy tại sao các xã hội nông nghiệp châu Âu tạo được những người như Leonardo de Vinci, là người kết hợp nhuần nhị tư tưởng khoa học với truyền thống thủ công đậm chất thực hành? Và tại sao xã hội Trung Hoa lại chọn Nho, Đạo và Phật giáo làm nền tảng triết lý? Câu trả lời có thể lại quay về vấn đề tập trung hay phân tán về chính trị đã nói ở trên.

Trung Quốc từng trải qua giai đoạn phân mảnh mạnh về chính trị, đó là thời Xuân Thu Chiến Quốc. Không bàn đến các lĩnh vực khác, đó thực sự là thời hoàng kim của sự phát triển tư tưởng, thời Bách gia chư tử, khi mọi hệ thống lý luận và thực hành đều có thể hình thành và phát triển. Tuy nhiên sau khi Trung Quốc thống nhất với một chế độ phong kiến tập quyền mạnh mẽ (xu hướng thường thấy sau các giai đoạn chia cắt), sự tự do tư tưởng cũng chấm dứt. Nhà nước tập quyền cần một hệ tư tưởng thống nhất. Mọi hệ tư tưởng khác khó lòng phát triển, nhất là khi hành động đốt sách, chôn học trò của Tần Thủy Hoàng luôn là tấm gương treo trước giới học giả. Chế độ tập quyền có nhiều ưu thế trong việc phát triển xã hội theo mô hình có sẵn, dưới ánh sáng một hệ tư tưởng chính thống đã được chọn. Nhưng nó không thích hợp cho sự thay đổi hệ tư tưởng và mô hình tổ chức xã hội. Đó là lý do tại đất nước vĩ đại này không xuất hiện sự thay đổi khuôn mẫu tư tưởng, điều kiện cần thiết cho các cuộc cách mạng. Vì thế cuộc cách mạng khoa học và do đó cuộc cách mạng công nghiệp không thể xuất hiện tại đây.

Tại châu Âu, cũng xảy ra các sự kiện như thiêu sống Bruno hay xử án Galileo, nhưng do sự phân mảnh vừa đủ về chính trị, các tư tưởng đối nghịch với chính thống vẫn được gieo mầm và phát triển, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của khoa học và quá trình chuyển đổi từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, dẫn tới sự vượt trội của phương Tây.

Cũng cần thấy rằng, bên cạnh nhiều ưu điểm, các hệ thống triết lý nền tảng của chế độ phong kiến tập quyền Trung Hoa đều không thuận lợi cho sự phát triển khoa học. Một người theo tư tưởng vô vi và hòa nhập với thiên nhiên của Lão tử khó lòng mổ xẻ thú vật để khảo sát cấu trúc giải phẫu của chúng như một nhà tự nhiên học phương Tây. Các nhà Nho luôn tâm niệm lời dạy của Khổng tử nhiều khả năng sẽ lảng tránh trách nhiệm tìm hiểu tự nhiên và vũ trụ. Trong một môi trường xã hội và học thuật như thế, làm sao khoa học như ta hiểu ngày nay có thể hình thành và phát triển?

Về hệ thống giáo dục và ngôn ngữ giao tiếp:

Một vấn đề cần lưu tâm nữa là hệ thống giáo dục. Hệ thống giáo dục Nho giáo có ưu điểm lớn trong việc lựa chọn nhân tài, khi bất cứ ai cũng có thể tham gia điều hành đất nước, miễn là vượt qua các vòng thi cử. Đó là điều mà phong kiến phương Tây không theo kịp. Vậy tại sao một hệ thống lựa chọn nhân tài tốt hơn lại thất bại trong cuộc cạnh tranh Đông Tây? Câu trả lời có lẽ nằm ở nội dung, cách thức và truyền thống giáo dục. Cách giáo dục từ chương, nội dung giáo dục lạc hậu (ngũ kinh, tứ thư, âm dương ngũ hành… có thể thích hợp với xã hội nông nghiệp sơ khai thời Xuân Thu Chiến Quốc, chứ không thể phù hợp với nền văn minh nông nghiệp đỉnh cao thế giới thế kỷ XV) phần nhiều tạo ra những con người xơ cứng về tư tưởng, rập khuôn trong hành động. Những quy định ngặt nghèo trong thi cử, như phạm húy có thể bị tù tội, càng làm thui chột các mầm mống tư tưởng phi chính thống, điều kiện cần thiết cho sự thay đổi. Đó là lý do các nhà Nho thời Tự Đức nước ta từng xem khoa học của người Tây Dương chỉ là trò dâm xảo, vì tìm mãi mà chẳng thấy âm dương ngũ hành đâu! Truyền thống tôn sư trọng đạo, nửa chữ cũng là thầy, bên cạnh mặt tích cực về đạo lý, không cho phép thế hệ sau phủ định biện chứng thế hệ trước, nên cũng góp phần triệt tiêu sự tiến bộ. Mà như đã biết, khoa học chính là một hệ thống mở chỉ tồn tại nhờ sự phủ định.

Ngôn ngữ giao tiếp cũng góp một phần, tuy nhỏ, vào sự mất tự do. Cách xưng hô bình đẳng trong các ngôn ngữ phương Tây chắc chắn tạo thuận lợi cho sự tự do tư tưởng hơn cách phân chia thứ bậc ngặt nghèo trong ngôn ngữ phương Đông, như tiếng Hán hay tiếng Việt. Còn tại sao ngôn ngữ giao tiếp phương Tây bình đẳng hơn thì chỉ các nhà ngôn ngữ học mới có thể trả lời.

Tất cả những vấn đề kể trên, cùng một số vấn đề khác mà người viết bài này chưa biết, đã kết thành nguyên nhân khiến các xã hội phương Đông nằm trầm mặc mà kiêu hãnh cả ngàn năm trong sự bất biến. Chỉ đến khi va chạm mãnh liệt với sức mạnh khoa học công nghệ của văn minh công nghiệp phương Tây, phương Đông mới bắt đầu tỉnh giấc, khởi đầu từ thời Minh Trị tại Nhật Bản. Và nay, các quốc gia phương Đông đang theo gương Nhật Bản trước kia, Trung Quốc ngày nay trong việc tìm kiếm cách thức riêng để canh tân đất nước trong thời buổi toàn cầu hóa, với tất cả những thời cơ và thách thức, lợi ích và hiểm họa. Hy vọng các bài học quá khứ có thể giúp phương Đông thành công.

Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng, nguyên lý hài hòa âm dương phương Đông có thể giúp cả Đông và Tây phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để cùng nhau phát triển, góp phần xây dựng một thế giới giầu mạnh và yên bình hơn.

Về bài thơ Khúc ca Đông Tây của Kipling:

Khi bàn về sự ngăn cách Đông Tây dường như không thể san lấp, câu đầu tiên trong bài thơ Khúc ca Đông Tây (The Ballad of West and East) của Rudyard Kipling thường được trích dẫn: “Ôi, Đông là Đông, Tây là Tây, và hai phía không bao giờ gặp mặt”. Tuy nhiên theo người viết bài này, đó là cách hiểu sai Kipling, nếu đọc hết bốn câu trong khổ mở đầu: “Ôi, Đông là Đông, Tây là Tây, và hai phía không bao giờ gặp mặt, / Chừng nào Trời và Đất vẫn còn đứng như hiện nay theo phán quyết vĩ đại của Thượng Đế; / Nhưng sẽ chẳng có Đông hay Tây, chẳng có ranh giới,  giống nòi hay sinh nở, / Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối mặt nhau, họ đến từ hai tận cùng trái đất!”*. Và bài thơ dài kết thúc bằng cách lặp lại chính khổ thơ này.

Như vậy, hai phía Đông và Tây trong bài thơ dùng để chỉ phương hướng địa lý; và tất nhiên chúng không bao giờ gặp nhau, chừng nào trời và đất vẫn còn hiện hữu. Nếu chú ý tới dấu chấm phẩy sau câu thứ hai, ý tứ của Kipling càng trở nên rõ ràng. Và theo Kipling thì ngược với phương hướng địa lý, khi đại diện của hai nền văn hóa gặp nhau, họ chính là anh em, vì giữa họ không hề có ranh giới địa lý hay giống nòi.

* Nguyên văn tiếng Anh:      

Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet, 
Till Earth and Sky stand presently at God’s great Judgment Seat;
But there is neither East nor West, Border, nor Breed, nor Birth,
When two strong men stand face to face, tho’ they come from the ends of the earth!

 

Bình luận

 

Cuộc sống giống chiếc xe đạp. Để giữ thăng bằng, chúng ta phải luôn tiến lên phía trước.

Albert Einstein