SUY NGHĨ VỀ NỀN VĂN HỌC CỦA NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP 2

 

...

Xu hướng hiện thời của văn học - nghệ thuật là đòi có sự tự do tuyệt đối, không bị lệ thuộc hay ràng buộc bởi một ý thức hệ tư tưởng nào, ngay cả tư tưởng truyền thống của mảnh đất nơi người văn nghệ sỹ sinh ra! Trong sinh hoạt nghệ thuật có hiện tượng từ cực này chuyển sang cực kia, từ sự chối bỏ, phê phán chuyển sang đám đông a tòng chấp nhận, tạo áp lực thường là nhằm mục tiêu chính trị chẳng tốt đẹp gì.

Những phương pháp sáng tác thực ra không còn mới mẻ nữa nhưng là cũ người mới ta như: chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại với những ngôn từ mới lạ như văn học phi lý, phân tâm học, hiện tượng học… Một số nhà lý luận có xu hướng muốn nhấn mạnh nhân tố chủ quan trong văn chương, xem đó như một phương thuốc chữa căn bệnh “giáo điều”, “máy móc”, “sơ lược” trong nghệ thuật, cho rằng mọi yếu kém trong văn học - nghệ thuật của ta bấy lâu nay đều từ đó mà ra. Không ít tác phẩm văn học thời miền Nam dưới ách đô hộ ngoại bang cũng bị dư luận bất bình thì nay lại được tái bản và được vồ vập của số người đọc ham của lạ.

Đâu phải chúng ta không biết phương Tây không phải chỉ có bóng tối mà còn có ánh sáng, không phải chỉ có khủng hoảng mà còn có phục sinh. Văn học - nghệ thuật phương Tây cũng vậy. Và lý luận văn học cũng thế. Tố Hữu tóm gọn trong mấy câu thơ: “Có gì mới ở phương Tây? / Có đêm và có ngày / Có vàng và có sắt / Có máu và nước mắt / Có những sói lang và có những anh hùng”.

Narcisism - chủ nghĩa “vị nghệ thuật”, xuất xứ từ câu chuyện bi thương của chàng trai Narcisse ngẩn ngơ mê mẩn chiêm ngưỡng dung nhan của chính mình lung linh soi đáy nước, quên hết sự đời, cho đến lúc thân thể héo mòn, chết khô bên bờ suối. Suy cho cùng đó là hội chứng sợ sự thật của những ai tự thỏa mãn với mình, không đủ can đảm và tri thức để nhìn ra và nhập vào cuộc đời rộng lớn. Thôi thì thà như bông hoa thủy tiên thật đẹp cho đời chiêm ngưỡng. “Đừng hèn nhát khóc than cầu khẩn / Cứ chăm lo bổn phận lâu dài / Vững tâm theo đúng mệnh trời / Rồi sau đau khổ lìa đời không kêu” (Alfred de Vigny. Trần Mai Châu dịch).

Cuộc sống bao giờ cũng có mặt sáng, mặt tối song nhà văn chỉ có thể sáng mắt sáng lòng. Chúng ta không việc gì phải học đòi những thứ nghệ thuật vô luân của phương Tây, đi sâu khai thác cái gọi là “sex”.

“Văn học phản ánh hiện thực”. Nhưng hiện thực thấu thị qua con mắt mỗi người một khác. Thực ra chủ nghĩa hiện thực chân chính không bao giờ coi nhẹ yếu tố chủ quan của người nghệ sỹ. Văn học sẽ chẳng còn ý nghĩa gì khi yếu tố con người - số phận, thân phận của họ không là nỗi rung cảm, là máu thịt của người sáng tác. Ông Nguyễn Khải kể rằng trong tập truyện “Mùa lạc” một thời được quảng bá khá rộng, có nhân vật Tùy Kiền. Khi đã thành danh, tác giả về thăm lại làng quê nơi ông thâm nhập để dựng tác phẩm mà nhà văn không dám gặp lại con người mẫu! Bởi nhân vật đã được hư cấu theo chủ quan tác giả, theo như sách vở gọi là qui luật khách quan! Nhưng sự đời không phải vậy. Nhân cách một con người được xây dựng trên nền tảng giáo dục gia đình, giáo dục xã hội và còn một điều nữa phụ thuộc vào trời - cái gọi là bản tính. Thời nào, ở đâu mà chẳng có người tốt kẻ xấu. Tuy nhiên, có nơi nhiều nơi ít là do những điều kiện khách quan. Bệnh duy ý chí từ đó mà ra. Cuối đời Nguyễn Khải lại ước ao viết được như Nguyễn Huy Thiệp mà không nhìn ra cây gạo cội đỏ rực giữa đồng như Nam Cao, thì chẳng lạ gì các nhân vật do ông dựng lên cứ lặng lẽ theo ông chìm dần trong lớp bụi thời gian phủ trên những tác phẩm của ông. Trong những sáng tác của Nam Cao, giữa khách quan và chủ quan là thống nhất. Số phận của các nhân vật và số phận của nhà văn là thống nhất. Nhà văn với nhân vật của mình cùng chung số phận. Tác phẩm là máu thịt của cuộc đời, là tâm huyết của nhà văn. Sứ mệnh của nghệ thuật, của văn chương là về con người và vì con người tức là nhằm nhận thức về con người để hoàn thiện con người. Tính hiện thực, tính nhân đạo và cả tính lãng mạn đều được thể hiện trong những tác phẩm của Nam Cao. Nên những Chí Phèo, Lão Hạc, giáo Thứ, Uyển (Những cánh hoa tàn)… vẫn được người đọc mọi thời nhớ tới và thương cảm.

Xã hội càng hiện đại càng có sự đổi thay nhanh chóng trong sự vận động tự thân của nó, đòi hỏi mọi chuyển hóa liên quan tới sự phát triển của con người phải luôn đổi mới. Trong đó, Văn học - Nghệ thuật là lĩnh vực nhạy cảm nhất báo hiệu những sự đổi thay. Tất nhiên không phải mọi sự đổi thay đều tốt nhưng xã hội sẽ điều chỉnh trong quá trình phát triển.

Khi vấn đề mất còn của Tổ quốc đã không còn là bức thiết thì nổi lên vấn đề về con người với những tính tốt xấu của họ. Trong chiến tranh, nhiệm vụ giữ nước là chủ yếu thì chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cần được khai thác. Trong hòa bình, nhiệm vụ dựng nước là chủ yếu thì chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn được coi trọng. Dù sao thì số phận của con người với số phận của cộng đồng, của Tổ quốc vẫn khăng khít với nhau. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng vẫn thống nhất với chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn, sẽ tạo đà cho văn chương Việt Nam hiện đại vươn tới tầm cao.

Văn học - Nghệ thuật cũng như Lý luận - Phê bình Văn học - Nghệ thuật nếu xa rời các nguyện vọng và nhu cầu bức thiết của con người và xã hội chỉ tô rồng vẽ phượng làm trò giải trí mua vui nhất thời, để thỏa mãn tâm lý cầu lợi hiếu danh của văn nhân nghệ sỹ sẽ dẫn đến bế tắc và thui chột. Mối quan hệ mật thiết giữa xã hội và văn học, cụ thể là giữa thời thế với văn nghệ sỹ làm nên sức sống của văn chương.

Thế kỷ XVI, XVII, XVIII, nước ta chiến tranh liên miên dai dẳng mà thực chất là cuộc nội chiến tranh giành nhau quyền lực. Được làm vua, thua làm giặc - Ý nghĩa cuộc chiến thật mơ hồ! Nỗi thống khổ của người dân được thể hiện trong văn chương theo chủ nghĩa nhân đạo truyền thống phương Đông. Văn học chữ Nôm xuất hiện từ thế kỷ XV đã đủ độ chín để rộ lên một trời sao mà hai vì sao sáng nhất là Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Du với Chinh phụ ngâm (diễn Nôm thơ chữ Hán của Đặng Trần Côn) và truyện Kiều, đạt tới đỉnh cao, có vị trí xứng đáng trong kho tàng văn học thế giới.

Đến thời văn học chữ Quốc ngữ với lớp người tân học đầu tiên, dù chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp nhưng vẫn mang bản sắc dân tộc và thời đại riêng với những tên tuổi lớn trong phong trào Thơ mới, các tiểu thuyết của nhóm Tự Lực văn đoàn, nhóm Tân Dân… Tiếp sau là những sáng tác theo chủ nghĩa hiện thực rất độc đáo như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng… Thế hệ nhà văn này đang sung sức thì cách mạng tháng Tám mang đến sự đổi đời từ kẻ vong quốc nô thành chủ nhân của Tổ quốc mình. Họ hăng hái bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, cùng với thế hệ nhà văn lớp sau, để lại những tác phẩm đáng là những mốc son về lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tạo nên một sinh khí mới của nền văn chương cách mạng.

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, thành tựu về thơ nổi trội hơn, như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận… Về văn xuôi, giới văn nghệ sỹ đều thấy cần đầu tư tích lũy để có những tác phẩm dài hơi lớn. Tuy nhiên, thực tiễn là chúng ta phải dồn toàn bộ tâm sức vào cuộc chiến tranh chống Mỹ gian khổ và ác liệt hơn nhiều. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, gần như cả xã hội chưa hoàn hồn với 20 năm khốc liệt và hy sinh to lớn. Trong bối cảnh thời hậu chiến lại vô cùng phức tạp, vừa hòa bình vừa chiến tranh toàn diện cả vũ trang và kinh tế, giáng những đòn cân não lên từng con người bất kể đã từng đứng ở bên nào. Hai tác phẩm Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) ra đời trong tâm trạng quá ư đặc biệt đó. Dù được giải thưởng cao, được nhắc tới nhiều và bỏ ra sự kiến tạo những ý đồ chính trị bất minh ngược với ý tưởng của nhà văn thì vẫn không thể coi đó là những tác phẩm tiêu biểu cho văn học chiến tranh cách mạng.

Thực tế là từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, ở nước ta luôn có hai cuộc chiến tranh đối nghịch nhau về bản chất chính nghĩa và phi nghĩa: một bên là xâm lược, một bên là tự vệ. Nếu có khoảng thời gian nào được yên tiếng súng thì nhân dân ta vẫn phấp phỏng sống trong tình trạng trực chiến, chờ đợi một sự cố bất thường. Có vui chỉ là vui gượng!

Thế nhưng, những nhà văn một thời mặc áo lính ở hai bên lại có cái nhìn khó giải thích nổi là ai say ai tỉnh.

Trung tá Quân lực Hoa Kỳ James G. Zumwalt, viết trong cuốn Chân trần chí thép: “Việt Nam chưa bao giờ là mối đe dọa với nước Mỹ. Họ đơn giản chỉ muốn chúng ta trở về nhà”, “Người Việt Nam có ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi”, “Sai lầm lớn nhất của chúng ta (người Mỹ) tại Việt Nam là đã không nhận ra được rằng chúng ta đang chiến đấu với “Thế hệ vĩ đại nhất” của đất nước này!”. Trong khi anh Chuẩn úy Hai Hùng của “Thế hệ vĩ đại nhất” của đất nước Việt Nam lại “vất cha nó quá khứ vào đống rác bên đường mặc cho ruồi nhặng kéo đến làm tình đẻ dòi đẻ bọ chơi” (Ăn mày dĩ vãng)! Và một anh lính khác nói ra tâm sự buồn: “Chiến tranh hoàn toàn phi lý nhưng có lẽ nỗi buồn chiến tranh lớn nhất chúng ta nhận thấy sau cuộc chiến đó chính là giữa ta và kẻ thù giống nhau tới nhường nào!” (Nỗi buồn chiến tranh). Rất giống với tâm trạng của những người lính tại mặt trận Tây Âu hồi Thế chiến thứ nhất (1914-1918): “Tôi thấy các dân tộc thù giết nhau như thế nào và lẳng lặng, dốt nát, ngu xuẩn, ngoan ngoãn, ngây thơ giết chóc nhau ra sao. Tôi thấy các đầu óc thông minh nhất thế giới chỉ chế biến ra các vũ khí cùng các lời nói làm cho chiến tranh thêm tinh xảo và thêm dằng dai!” (Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh của E.M. Remarque). Đó là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc châu Âu, chủ yếu là Anh-Pháp-Nga với Đức-Áo-Hung tranh giành nhau thuộc địa. Nhưng cuộc chiến do Mỹ gây ra ở Việt Nam thì khác. Trong khi Cụ Hồ - linh hồn cuộc kháng chiến, trước sau vẫn nhất quán một lẽ khiêm nhường: “Chúng tôi không muốn là người chiến thắng. Chúng tôi không muốn là anh hùng. Chúng tôi chỉ muốn điều duy nhất là họ (quân xâm lược) cút ngay khỏi đây thôi!”. Và lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Hoa Kỳ diễn ra một cuộc rút quân về nước không kèn, không trống, không hoa, không có người ra đón, không có anh hùng, không có chiến công với lời thú nhận cay đắng của Mc. Namara, người phát động cuộc chiến tranh ấy như sau: “Chúng ta đã sai lầm, sai lầm một cách tồi tệ. Chúng ta mắc nợ các thế hệ tương lai câu giải thích tại sao lại sai lầm như vậy…!”.

Nhiều người chia sẻ với tiếng thở dài của nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm: “Kẻ phi nghĩa sám hối mà cả người anh hùng cũng sám hối. Thế là huề! Thế là thiện ác đảo điên, chính tà lẫn lộn, vinh nhục bất phân!”. Và chua chát nói: “Đó là một tin vui từ một nỗi buồn và một nỗi buồn từ một tin vui cho những người viết văn và đọc văn ở Việt Nam hiện nay!”.

Cái đẹp chân chính của văn chương là sự thật nhưng không dễ dàng bộc lộ. Lev Tolstoy nói: “Nhân vật chính trong truyện của tôi, nhân vật mà tôi mến yêu với tất cả sức mạnh tâm hồn, cố gắng tái hiện với tất cả vẻ đẹp của nó, nhân vật đã đẹp, đang đẹp và mãi mãi sẽ là đẹp, nhân vật đó là sự thật”.

Mỗi quốc gia đều tìm ra con đường đi cho mình. Con đường của ta phục hưng dân tộc sau khi khôi phục độc lập và thống nhất nước nhà không có nghĩa là ta chỉ thừa hưởng mà tiếp tục phát triển, sáng tạo, giao lưu và hội nhập với thế giới hiện đại trên sự trung thành với những thành tựu văn hóa của ta và hướng tới tương lai với lòng nhân ái.

Trong hồi ký cuối đời Dấu ấn trăm năm (NXB Trẻ - 2015), nhà trí thức cách mạng Trần Văn Giàu nói: “Bây giờ chúng ta giống như một chiếc thuyền giữa biển khơi có sóng gió lớn, tất cả các ngôi sao ở trên trời đều bị mờ, thì chỉ còn ngôi sao Hồ Chí Minh, cái la bàn Hồ Chí Minh vững chắc cho chúng ta thôi”. Sự thực là những lời khuyên của Cụ Hồ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi… Văn hóa là một mặt trận… Nhà thơ cũng phải biết xung phong… Ở trong thơ nên có thép… Viết cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn…” đã là sự định hướng cụ thể để nền văn học - nghệ thuật nước nhà có được những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc vừa qua. Trên cương vị nhà sử học, giáo sư Trần Văn Giàu gợi mở những điều tâm đắc: “Tư tưởng Hồ Chí Minh khác với tư tưởng khác, phải tìm không chỉ trong sách vở, mà cả trong lời nói, hành động, ứng xử - cả trong sự nói mà không nói, viết mà không viết, thì mới nắm được tư tưởng toàn diện của Cụ” (sđd.). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp lòng yêu nước nồng nàn và kế thừa đạo đức học truyền thống quý báu của dân tộc ta, cũng là sự chắt lọc các tư tưởng tiến bộ của loài người, nó bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta.

Nếu đời sống văn chương cũng như xã hội mà cứ im lìm êm ả, mọi việc cứ thuận gió xuôi buồm thì sẽ không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Chuyển biến xã hội đòi hỏi sự đổi mới căn bản của văn chương. Tất nhiên văn chương phải kinh qua xáo trộn thậm chí là xung đột nếu muốn tiếp tục phát triển và kế thừa. Chuyển giai đoạn cách mạng tức là nhiệm vụ đã thay đổi. Cuộc cách mạng này xông vào cuộc cách mạng khác không tránh khỏi xung đột mới cũ. Nó lẫn lộn dở hay, khó khăn, dai dẳng, nặng nề, luyến tiếc mà không thể không dứt bỏ nếu muốn có thay đổi tốt hơn. Nhưng đó là yêu cầu bức xúc cũng là tiền đề cho xã hội tiến lên.

Cuộc sống hiện đại hơn thì vai trò của văn học trong sự tiếp đón của công chúng có thu hẹp lại. Văn hóa đọc viết không còn địa vị chủ soái như trước nữa. Thành tựu trong sáng tạo văn học - nghệ thuật càng phải dựa vào khát vọng, tài năng, học vấn và lao động của người viết. Tuy nhiên, có tác phẩm nổi chìm theo thời cuộc là hiện tượng không chỉ thấy ở riêng một nước nào. Việc kiểm duyệt thời nào cũng cần ở bất kỳ đâu, nhất là khi xã hội có những mầm bất ổn. Tuy nhiên, vài cuốn sách ngoài đôi chỗ “đâm hông” mà chẳng thể gây tác hại lớn lại bị cấm lưu hành, càng kích thích sự tò mò tìm đọc của người hiếu kỳ! Một số nhà văn có được một hai đầu sách ấn tượng, được người đọc hy vọng đón đợi thì lập tức như quả pháo xì, “dở chứng” theo những thị hiếu không lành mạnh, là bởi tài của người viết chỉ có bấy nhiêu thôi chứ không phải do xã hội khắc nghiệt vùi dập tài mình, lấy cớ đó để “làm tình” với đám “ba trợn” lúc nào cũng thủ sẵn gạch đá trong tay! Ông Phan Khôi nói thâm thúy lắm: “Ở xã hội ta nhà nho (tất nhiên gồm cả giới văn nghệ sỹ - NV) bao giờ cũng có sẵn rìu búa trong tay, gặp lúc thì giở ra để duy trì nhân tâm thế đạo”. Câu nói tưởng chừng phi lý mà lại là sự thật. Một nước nhỏ lại ở nơi hiểm yếu, luôn sống giữa sự đe dọa bởi luật cá lớn cá bé mà trong giới người có học luôn bị phân tâm chia rẽ bởi những thế lực ngoại xâm, nội phản. Kẻ sỹ Việt Nam không thể chỉ biết chăm vào chữ nghĩa mà còn phải thủ sẵn rìu búa nữa! Có điều là rìu búa để duy trì cái nhân tâm thế đạo của người quân tử thì đại phúc cho dân. Còn như rìu búa để duy trì cái nhân tâm thế đạo của kẻ tiểu nhân sẽ là đại họa cho xã hội!

Nhà văn không thể thiếu sự tin yêu của người đọc mà phải là bạn đồng hành cùng bạn đọc, chia sẻ vui buồn với họ, là người hướng dẫn, hơn nữa nếu được họ coi như người thầy thì là điều lý tưởng.

Lịch sử nước nhà, đặc biệt ở thời đại Hồ Chí Minh, là tiền đề cho nhà văn sáng tạo. Sự thật là cao quý nhất, tốt đẹp nhất cả loài người đều thấy - Đó là quá trình giữ nước và dựng nước lâu dài gian truân. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa với bao nhiêu sự kiện anh hùng, bi thương là chất liệu vô giá với các nhà văn. Máu lửa mà nhân văn! Khắp nơi trên đất nước này ở đâu cũng có những con người tuyệt đẹp để lại những sự tích, những tấm gương sáng về lòng yêu nước, về sự quên mình, về lòng chung thủy, về sự tận trung, tận hiếu, tận nghĩa, tận tình… Như cái chết dũng liệt của người anh hùng Nguyễn Trung Trực cùng cái chết khí khái của bà mẹ ông khiến quân thù khiếp sợ; như mối tình của nhà cách mạng Nguyễn Thái Học với vị hôn thê, của Hoàng Văn Thụ với Hoàng Ngân, của nhà giáo yêu nước Ba Bích với cô Út Lương Hòa sau là nữ tướng quân Ba Định; như bà mẹ Quảng Nam Nguyễn Thị Thứ có 11 người con và cháu lần lượt hy sinh; như nhà giáo Bùi Thị Mè có 4 người con trai thì chỉ nửa tháng trong mùa Xuân Mậu Thân, ba người ngã xuống và một người sau đó bị thương. Bà nói: “Có người mẹ nào khi biết con mình xông pha trước làn tên mũi đạn quân thù mà không lo lắng xót xa. Nhưng độc lập tự do đâu ai cho mà có, cái giá phải trả là gian khổ và hy sinh”. Sự thật có biết bao những câu chuyện mang chất sử thi, nhân đạo, bi hùng, lãng mạn như thế.

Vấn đề còn lại là ở cái tài, cái tâm và cái tầm của nhà văn hôm nay và mai sau.

Sẽ chẳng thể làm nên sự nghiệp khi để cái tôi làm hại cái tâm và cái tâm hạ thấp cái tầm!

Hạ Long - Quảng Ninh, 5-12-2017

(Tham luận tại Hội đồng Lý luận & Phê bình Văn học – Nghệ thuật Trung ương)

Nhà văn - Bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh, Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 484, 17-1-2018

Bình luận

 

Bạn không bao giờ thất bại trừ khi bạn ngưng cố gắng (You never fail until you stop trying)

Albert Einstein