SUY NGHĨ VỀ NỀN VĂN HỌC CỦA NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP 1

(QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC VÀ VĂN HỌC)

 

...

Trước những hiện tượng văn hóa xã hội ngày một xấu đi, như nhóm thơ “mở miệng” lại được những nhà giáo đầu đàn tán thưởng (bằng Thạc sỹ văn chương của Nhã Thuyên); viên đại quan mang trọng tội dối vua lừa dân dâng lục tỉnh Nam kỳ cho giặc lại được khai thác thành tấn bi kịch như nỗi đau lịch sử của bậc trung thần yêu nước thương dân (kịch Nợ non sông – Phạm Quang Long); đặc biệt vô sỉ tới mức một nhóm văn nghệ sỹ Văn Việt già có, trẻ có đàn đúm nốc rượu tếu hài, phát tán clip bêu riếu một liệt nữ ở tuổi thiếu niên bị giặc Pháp đưa ra pháp trường xử bắn! Hiện tượng không ít người làm văn hóa mà lại biểu hiện sự thiếu văn hóa, bôi nhọ lịch sử của dân tộc mình, dù có bất đồng chính kiến nhưng suy cho cùng là thiếu căn bản giáo dục, đang là một thực tế nhức nhối làm cho cái đẹp của con người và cuộc sống bị mờ nhạt đi, gây tâm trạng lo lắng cho tương lai đất nước. Hẳn nhiên các nhà xã hội học, giáo dục học, đạo đức học và quản lý quốc gia đều rất nhạy cảm trước mọi biến động của môi trường xã hội.

Phải chăng trước hết là giáo dục rồi mới là văn học? Bởi trước khi đến với văn chương, ai cũng phải qua trình tự: Học đọc, học viết - Học ăn, học nói, học gói, học mở - Học chữ, học nghĩa - Học đạo làm người. Khi thành nhân rồi thì mới cầm bút viết văn. Người xưa coi văn chương là chuyện cao đạo thanh tao.

Bởi ngôn ngữ là giá trị hàng đầu của một dân tộc. Đương nhiên là ngôn có trước, tạo sự giao lưu giữa các cộng đồng. Ngữ ra đời đánh dấu sự phát triển tư duy, là phương tiện lưu truyền văn hóa của một dân tộc, cũng là phương tiện tiên quyết bất khả thay thế của một nền giáo dục quốc gia. Sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn để biểu đạt ý tưởng, tình cảm, đấy là văn chương, từ truyền khẩu đến thành văn.

Ngay lúc mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng rất sáng suốt. Trong một xã hội mà tới 95% người mù chữ bởi chính sách ngu dân hóa của nhà cầm quyền thực dân, chẳng ở đâu trên thế giới này ngoài Nhà nước Việt Nam độc lập mới coi sự không biết chữ là giặc dốt, nguy hại tới cả sự tồn vong của giống nòi cũng như giặc đói và giặc ngoại xâm. Trên cơ sở tiếng Việt là thứ tiếng thống nhất trong cả nước, dầu biết rằng chữ Quốc ngữ bức tử chữ Nôm truyền thống nhằm mục tiêu nô dịch nền văn hóa bản địa, nhưng người Việt tương kế tựu kế, nhanh chóng biến loại ký tự mới này trước hết để phổ cập văn hóa toàn dân qua phong trào “Truyền bá chữ Quốc ngữ”, sau đó là “Bình dân học vụ”. Thực tế là tuyệt đại đa số quần chúng vừa thoát tay giặc dốt lập tức trở thành những chiến sỹ chiến đấu cho độc lập chủ quyền của Tổ quốc và dân tộc.

Những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam độc lập, dù biết không tránh được dã tâm tái xâm lược của đế quốc Pháp, trong bộn bề công việc chuẩn bị cuộc kháng chiến, Đảng Cộng sản vẫn tin tưởng ở tương lai dân tộc, đưa ra Đề cương văn hóa Việt Nam với phương châm “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng” mang tính định hướng lâu dài. Tất nhiên, những tiêu chí ấy mang nội dung cụ thể của từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Ngày nay, thế giới càng hội nhập thì bản sắc “dân tộc” càng được đề cao. “Khoa học” tiến bộ rất nhanh khiến nhận thức con người phải bắt nhịp thời cuộc. “Đại chúng” ngày nay không còn là những người dân cày, những người thợ vai u thịt bắp, một chữ bẻ đôi không biết, mà là những người đang vươn lên lập nghiệp trong thời đại khoa học công nghệ số (industrie 4.0).

Năm 1960, sau khi đuổi được giặc Pháp, Hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ được tổ chức tại Hà Nội và năm 1965, khi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam mở rộng ra cả nước vô cùng ác liệt, Nhà nước ta lại mở hội nghị bàn về Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Chữ Quốc ngữ được nâng cấp phát triển toàn diện, thành thứ ngữ văn chính thống bảo tồn nền văn hóa Việt. Nó đáp ứng được mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ sinh hoạt, tình cảm, trí tuệ, tâm linh tới các lĩnh vực ngoại giao, quân sự, các bộ môn khoa học xã hội và tự nhiên hiện đại rất phức tạp, là ngôn ngữ chính thống giảng dạy trong các trường từ mầm non đến đại học. Cụ Hồ và những lãnh tụ cách mạng đồng thời là những nhà văn hóa lớn rất quan tâm và nêu gương trong việc làm trong sáng tiếng Việt cả trong cách nói và cách viết: Tiếng Việt phải không bị vẩn đục bởi cách đặt câu sai, các lỗi dùng từ thổ âm thô thiển, lệch chuẩn đều không có chỗ đứng trong nhà trường và trong các phương tiện truyền thông; chống sự lạm dụng tiếng nước ngoài không cần thiết; những từ đã được Việt hóa phải dùng thật chuẩn; lối nói lối viết mù mờ, lộn xộn, khó hiểu (Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam) thì người nói hay viết sáng tạo vận dụng ngôn ngữ hiện đại biểu đạt sao cho rõ ràng, mạch lạc để người nghe, người đọc hiểu đó là lời nói Việt, câu văn Việt, chớ không là câu nói, câu viết lai căng ngô nghê, ngớ ngẩn. Đáng buồn là qua thời gian, bởi nhiều tác động, sự nghiệp giáo dục lại thiếu căn cơ, ý thức mọi người với vấn đề đó nhạt phai dần. Tình trạng sử dụng tiếng Việt thiếu trong sáng, thiếu chuẩn mực lại tràn lan khắp nơi. Đến nỗi một cuốn Tự điển chính tả viết cho cấp học phổ thông mà thiếu sự nghiêm túc, vẫn bị kéo dài mấy thập kỷ và được tái bản nhiều lần?! (Xem “Tự điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân - Phê bình & Khảo cứu”. Hoàng Tuấn Công biên khảo. NXB Hội Nhà văn, trên báo Tuổi trẻ số 8760, thứ năm ngày 17/8/2017). Thậm chí chương trình đào tạo Tiến sỹ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng không đảm bảo khối lượng kiến thức tối thiểu (Báo Sài Gòn Giải Phóng số 14458, thứ ba ngày 29/8/2017)!

Mục đích cuối cùng của giáo dục là đào tạo ra con người có chữ, có nghĩa, tức là con người hiểu biết tự nhiên, xã hội, có đạo đức, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và quốc gia dân tộc. Quan niệm “Khai trí tiến đức” luôn là mục tiêu đồng hành của nền văn hóa nước nhà. Trong đó môn văn học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng cũng là nhà văn hóa lớn, nói lời tâm đắc: “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”. Đạo đức là nguồn gốc của văn chương. Văn chương với đạo đức là thống nhất. Cái quan hệ văn - đạo thể hiện rõ ràng trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Khi văn chương là lẽ sống, là lối sống của con người thì “văn dĩ tải đạo”. Đó là thời kỳ văn học Việt Nam có những bước tiến dài với những tác phẩm đóng góp không nhỏ vào sự mở mang dân trí, bảo tồn và phát huy giá trị đạo đức của con người Việt Nam.

Khi nền kinh tế kế hoạch hóa bộc lộ tính quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội, lãnh đạo chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường thì tư duy kinh tế thâm nhập vào mọi lĩnh vực, nó “thế tục hóa” cả lĩnh vực văn hóa tinh thần xưa nay vốn được coi là “cõi thiêng”, nó lôi kéo toàn xã hội, không trừ cả những quan viên lớn nhỏ và tao nhân mặc khách đua nhau đi tìm kiếm đồng tiền bằng mọi giá! Việc xây dựng con người mới trên hạ tầng cơ sở ấy giằng xé nhau diễn ra muôn hình vạn trạng đầy sự bi hài. Lẽ ra tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, văn minh vật chất phải đi đôi với văn hóa tinh thần, giáo dục và văn hóa phải trở thành yếu tố thiết yếu hàng đầu trong chiến lược phát triển quốc gia. Thế nhưng, thời cơ mở ra thì nguy cơ ập đến. Thời cơ càng lớn, nguy cơ càng nhiều, thành tựu càng cao thì tổn thất càng nặng. Đời sống vật chất của xã hội có khá lên song đời sống tinh thần lại xấu đi. Văn hóa giáo dục đúng ra phải giúp con người làm chủ kinh tế thì ngược lại càng giúp kinh tế thống trị con người. Chủ nghĩa Marx từng cảnh báo về sự tha hóa của con người trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong bối cảnh thế giới hội nhập vô cùng đa dạng, cái tốt, cái xấu lẫn lộn, lợi ích nhóm tìm đến mọi ngõ ngách của đời sống, lấn át lợi ích cộng đồng, kẻ xấu lộng hành, người tốt yếu thế, kể cả việc đại sự quốc gia, mượn thế bên ngoài gây sức ép hù dọa bên trong.

Khi đạo đức xã hội xuống cấp sẽ tác động đến sự suy thoái của Văn hóa nói chung và Văn học - Nghệ thuật nói riêng là điều không tránh khỏi. Giai thoại về vua Quang Trung một lần ra Bắc, tiếp các sỹ phu, ngài hỏi một vị: “Ông làm gì?” - “Thưa Thám hoa!” – “Thám hoa là cái gì? Có làm được chánh tổng không?”. Cần hiểu rằng nhà vua thiên tài đoản mệnh ấy rất rạch ròi giữa vốn kiến thức và năng lực điều hành. Vậy mà 200 năm sau, dù phong trào Duy Tân có bị dìm trong bể máu và nhân dân ta đã rũ bùn đứng dậy cùng với cuộc cách mạng tháng Tám, dù có hai cuộc kháng chiến chấn động địa cầu, cũng tại cố đô Thăng Long đã tổ chức một hội nghị lớn đưa ra nghị quyết: Sau 3 năm, tất cả các Trưởng phòng cấp Sở phải có tấm bằng Tiến sỹ! Nay cả nước ta đã có 24.000 Tiến sỹ mà thực trạng đất nước ra sao? Nền giáo dục của ta đứng ở chỗ nào? Năng suất lao động ở tóp cuối trong khu vực? Cái nếp thanh lịch của người Tràng An có còn giữ được? Khi Văn với Đạo không cùng một đích thì mối quan hệ giữa con người báo động, xã hội còn trì trệ nhiễu nhương!

Với mục đích hạn chế tác hại của nền kinh tế thị trường tự phát, nhằm lành mạnh hóa xã hội để người dân được sống trong sự công bằng, văn minh, lãnh đạo chủ trương “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhưng sẽ bắt đầu từ đâu? Thực tiễn, thực hành là nguồn gốc, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức, của lý luận. Từng bước đi cụ thể thế nào? Những bước khởi động chân nam đá chân xiêu chưa tạo được niềm tin.

Tất nhiên quốc gia dân tộc thì vẫn còn đó nhưng chất lượng cuộc sống thế nào? Mối quan hệ xã hội thể hiện đạo đức của con người. Đời sống vật chất và tinh thần có được cân bằng? Truyền thống văn hóa có được bảo tồn? Văn học - Nghệ thuật phản ánh thực trạng xã hội ra sao? Giá trị và niềm tin vào thể chế là ở đó!

*
Sau ngày Hội đồng Lý luận và Phê bình Văn học - Nghệ thuật Trung ương được thành lập, năm 2004, một nhà thơ trong cương vị người phụ trách công tác văn hóa - tư tưởng cao nhất của Đảng CSVN lúc ấy, đánh giá nền văn học nước ta như sau: “Tính đến nay chúng ta đã có một nền văn chương độc lập tự chủ 10 thế kỷ. Đó là một nền văn chương đạt tới giá trị Chân-Thiện-Mỹ… Trên thế giới không hiếm có những quốc gia giàu có về tài nguyên nhưng không thể sản sinh ra được một nền văn chương như vậy” dễ được người nghe đồng thuận. Nhưng với ý tiếp sau: “Gắn với nền văn chương đó là một nền lý luận văn học ưu việt, mang đến cho các văn nghệ sỹ sáng tạo và nhân dân ta một quan niệm văn chương đúng đắn… Chúng ta phải tin tưởng vào hệ thống lý luận văn học của chúng ta…”, thì trong bối cảnh thế giới và trong nước hiện tình xem ra có phần khiên cưỡng! Dù diễn giả nhìn nhận một bộ phận không nhỏ trong giới sáng tác có: “định kiến rằng lí luận là khô cứng, là thiên kiến, áp đặt. Mỗi kỳ hội thảo mà nói tới điều gì tốt đẹp thì cho rằng chúng ta giáo điều…”! Ai cũng biết thái độ “phủ nhận sạch trơn” là thiếu khách quan khoa học nhưng lời khuyên của diễn giả: “Phải biết giữ lại giá trị tốt đẹp, bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận văn học trong điều kiện lịch sử mới và thực tiễn nghệ thuật mới” lại chưa được hưởng ứng bởi hệ thống lý luận của chúng ta chưa sâu gốc bền rễ! Cụ thể là sau đó, qua các cuộc hội thảo về Phê bình và Lý luận chuyên ngành các cấp được tổ chức thường niên, nhiều vấn đề liên quan đến Văn học - Nghệ thuật được đề xuất, bàn thảo nhưng bàn rồi để đấy, kỳ sau lại bàn! Trong khi nền kinh tế quốc dân dù còn nhiều bất cập nhưng nhìn tổng thể có bước tiến đáng kể, đời sống người dân được cải thiện rõ ràng ngoài một bộ phận những người nghèo khổ bởi nhiều lý do mà quốc gia nào cũng không tránh được. Những người quan tâm tới Văn học - Nghệ thuật thường trăn trở chia sẻ với nhau cảm giác buồn về một nền “văn học lâm nguy” có là sự thực? Những định hướng sáng tác được coi như tuyên ngôn dường như bị xao lãng. Những tác phẩm văn học được coi là thành tựu một thời thì nay xã hội thờ ơ! Một số tác phẩm văn học được giải thưởng cao mà không gây một tiếng vang! Vài tác phẩm được PR quảng bá nhưng thực ra là “bá láp”. Một số sách độc hại lừa đời bằng cách thay họ đổi tên lừa được người kiểm duyệt thiếu trách nhiệm, càng làm người đọc bực mình! Các nhà xuất bản chỉ lo có đầu sách dịch chớ không chặt chẽ với nội dung cuốn sách ngoài mục đích chiêu khách theo thị hiếu không lành mạnh. Giới người đọc bảo nhau: Cả thế giới thời nay là thế, có là sự thực?!

Có người nói bởi ta chưa tìm ra hệ thống lý luận mới trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật để người viết chưa biết kết hợp thế nào giữa “bản sắc dân tộc” trong xu hướng giao lưu giữa các nền văn hóa thời hội nhập. Cụ thể “con người xã hội chủ nghĩa” và “con người định hướng xã hội chủ nghĩa” khác nhau ở những điểm nào? Có thể định hình được con người ấy? Phải chăng xưa nay xã hội nào cũng rất cần có những con người tử tế và lương thiện, càng nhiều càng tốt. Vậy thì những con người ấy khác chi nhau?!

Câu nói “Dân chủ XHCN gấp vạn lần dân chủ tư sản” đã thành sáo ngữ vẫn cứ phải nghe ở nơi này chỗ nọ! Hơn nửa thế kỷ qua rồi, CNXH còn là ảo ảnh trong khi hiện tình chúng ta mỏi miệng kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận nền kinh tế của ta đã là “nền kinh tế thị trường” - tức là nền kinh tế TBCN thực thụ, mà đáp lại chỉ là những nụ cười xã giao!

Thực tiễn ở nước ta: Cuộc kháng chiến khốc liệt lâu dài chống xâm lược phương Tây vừa chấm dứt thì lập tức phải đối phó với cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương chống lũ phản bội và cơ hội quốc tế. Trong cuộc đấu tranh đó ý nghĩa giải phóng dân tộc với ý thức hệ giai cấp xen lồng vào nhau. Trong khi “con người giai cấp” với “con người tự do” chưa nhất thể hóa được với nhau thì sự sụp đổ của hệ thống XHCN như một chấn động thời đại làm lung lạc niềm tin một thời được coi như là tuyệt đối! 

Không thể phủ nhận thực tế là việc xây dựng CNXH ở nước ta chưa được bao nhiêu cả về hạ tầng cơ sở lẫn thượng tầng kiến trúc. Qua những gì đã xảy ra thì ngay ở Liên Xô từng được coi như “đã hoàn thành công cuộc xây dựng CNXH và bước vào giai đoạn đầu xây dựng CNCS” cũng chỉ là sự PR trong thế giới thông tin một chiều thôi! Giữa một thế giới đầy biến động khó lường, tránh sao khỏi lúng túng tìm cách đổi mới nền kinh tế quốc dân đồng thời với đổi mới thể chế chính trị trước yêu cầu hội nhập như một áp lực từ bên ngoài lẫn bên trong. Trong bối cảnh rối ren phức tạp như thế mà đòi hỏi phải có một hệ thống lý luận soi đường định hướng cho Văn học - Nghệ thuật thì thật là “không tưởng”. Giữ gìn sự hòa bình ổn định, bảo vệ độc lập thống nhất đất nước và chủ quyền dân tộc, hướng tới xây dựng xã hội phát triển, dân chủ, bình đẳng, văn minh, từng bước hội nhập với cộng đồng thế giới trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, là mục tiêu trước mắt và lâu dài của Tổ quốc Việt Nam. Đây chính là lúc giới nghệ sỹ thể hiện bản lĩnh văn hóa của mình, xứng đáng là người sáng tạo đồng thời là nhà tư tưởng, nhà đạo đức, người bạn, người thầy của người đọc, của con người.

Nhà văn, nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm nhận định: “Giá trị chính diện của văn là người. Cái tốt cái xấu của người cũng như cái hay cái dở của văn thiên biến vạn hóa nên mối quan hệ giữa văn và người là vô cùng phức tạp, xét cho cùng văn và người vẫn là nhất trí. Không ở đâu nhân cách con người lộ rõ như trong văn chương. Dù văn chương có hư cấu nhưng không thể hư trá. Có những nhà văn viết văn để tố cáo những điều gì đó trong cuộc đời song vô tình lại tố cáo chính bản thân mình, tố cáo cái đức, cái tài, cái tâm của mình ở trên trang sách”.

Không dưng những nhà văn hóa Đông Tây cùng chung ý tưởng, như Lưu Hiệp: “Đời xa rồi không còn thấy mặt, xem văn như thấy được lòng” (Văn tâm bửu giám), và Pascal: “Tưởng gặp một nhà văn, không ngờ gặp một con người”.

Văn nghệ sỹ là một bộ phận và được coi như người phát ngôn của giới trí thức. Hoạt động của mọi người trí thức chân chính đều trên cơ sở “Hiểu biết, khám phá và sáng tạo”. Mỗi người bẩm sinh đều có mầm mống về một tài năng nào đó. Tài năng là điều bí ẩn, có khi được phát hiện tình cờ và may ra ở người nào đó có điều kiện để phát triển tài năng. Nhà hoạt động xã hội Phạm Văn Đồng, người bạn có uy tín của giới văn hóa luôn nhắc nhở: “Văn nghệ sỹ hãy trân trọng tài năng của mình như báu vật quí hiếm vô giá, cần phải có nhiều vốn sống, vốn văn hóa, văn học, vốn tư tưởng, phải có tầm học vấn cao rộng, cụ thể phải biết trời cao đất rộng là gì”. Tư Mã Thiên thì nói: “Người cầm bút phải có tấm lòng chứa thiên sơn vạn thủy cùng với thiên kinh vạn quyển”.

Sự hòa trộn giữa hiện thực của đời sống và sự rung động nội tâm được thể hiện bằng tài năng của người viết tạo nên giá trị tác phẩm. Tuy nhiên, có khi ý nghĩa của tác phẩm là do người đọc khám phá ra, thậm chí kiến tạo ra tới mức ngược với ý tưởng người khai sinh ra nó. Có thể là dở, cũng có thể là hay.

Ngôn ngữ là công cụ, là phương tiện để diễn tả tư tưởng tình cảm của con người. Nó thể hiện ra ở câu chữ, ở cái mà người ta gọi là giọng điệu hay là phong cách của tác giả. Cũng có thể coi “phong cách là nhân cách” của nhà văn.

Đằng sau những trang văn dữ dội của Vũ Trọng Phụng bộc lộ sự căm ghét những tệ nạn thối nát và thói hư tật xấu vẫn là sự khát khao cái đẹp, mong mỏi điều lành cho cuộc đời bất hạnh của ông và những người đồng cảnh như ông. Có lúc ông chỉ ước ao “Giá như mỗi ngày tôi có được ăn một miếng bít-tết thôi thì không đến nỗi chết sớm thế này!”. Nhưng trong đời thật, ông là con người rất đứng đắn, mẫu mực, cần kiệm, một người con hiếu, người chồng tốt, người bạn chí tình, một nhà văn tận tâm với những trang viết chỉ nguyện trừ ác khuyến thiện đối với con người và xã hội. Những nhân vật của ông dù xấu nhưng vẫn là người, sống lẫn lộn quanh ta, không ưa nhưng không sợ. Hư cấu không có nghĩa là tưởng tượng vô căn cứ, dù có khi là bịa. Sự kiện là như thật, còn hơn thật, chỉ có nhân vật là hư cấu, đòi hỏi người viết phải thâm nhập sâu vào cuộc đời, chắt lọc cái tốt xấu của con người.

Giới văn nghệ sỹ TP. Hồ Chí Minh hẳn không quên đêm thơ Lưu Trọng Lư (7/8/1989) tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn: Con gái nhà văn Vũ Trọng Phụng đọc lại bài điếu 50 năm trước, nhà thơ nổi tiếng “cực kỳ lãng mạn” đương thời thay mặt văn giới hết lòng bênh vực và biểu dương nhân cách đáng trọng của nhà văn cũng nổi tiếng là “cực kỳ hiện thực” đương thời trước mọi thành kiến và ngộ nhận của dư luận xã hội và bày tỏ lòng tiếc thương vô hạn đối với nhà văn quá cố. Nhà thơ nói trong nước mắt với con gái bạn: “Ngày cha cháu qua đời trong đói nghèo, bệnh tật, cháu chưa đầy 1 tuổi. Ngày nay cháu đã nên người, có cuộc sống yên lành hạnh phúc”. Quay qua cử tọa, ông run giọng nói: “Ngày xưa thân phận người văn nghệ sỹ chúng tôi tủi cực, bất hạnh là như thế đó. Ngày nay điều hạnh phúc của tôi không chỉ là được sống để làm thơ mà còn được sống để làm người”. Cũng dịp này, cử tọa còn được biết một bài viết của nhà văn lứa đàn anh Nguyễn Tuân, có đoạn: “Nhân Phụng vừa nằm xuống, tôi lại tìm trong đầu xem trong bọn nhà văn trẻ những người nào là cầm lỏng cái chết. Thế Lữ, Tchya, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam… đều là những người đủ tư cách để sớm lên đường lắm. Ngực người nào cũng lép như cái đồng hồ Ômêga trông nghiêng. Tôi không độc mồm nguyền rủa ai. Trái lại. Và buồn thương lắm”. Trong cơn xúc cảm, nhà văn của sự lãng du không nhớ nổi những Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp, Phạm Hầu, Nguyễn Thế Phong… chết ở lúc tài hoa đương độ. Tuy những tài tử văn nhân ấy ở những cực sáng tác có vẻ khác nhau song họ đều là những đứa con của một dân tộc mất nước, sống trong hoàn cảnh tủi nhục lầm than của một cuộc đời, một nền văn chương nô lệ. Một lớp nhà văn đang rơi xuống đáy của sự bần cùng thì cách mạng đến và họ đã ùa vào lòng cách mạng như con ùa vào lòng mẹ để trở thành nhà văn công dân, nhà văn chiến sỹ. Cuộc đời họ là chứng nhân lịch sử về thân phận người nghệ sỹ Việt Nam được hồi sinh và nhận vinh quang cùng dân tộc. Nghĩ càng thương và càng kính trọng nhân cách của lớp nhà văn tiền bối ấy.

Văn chương không những phản ánh sự thật của cuộc đời mà trước hết biểu hiện rõ bản chất của nhà văn. Nguyễn Huy Thiệp khá nổi danh trong văn giới. Ông cũng căm ghét những thói hư tật xấu, những cái giả dối, những mánh khóe lọc lừa nhưng là với những kẻ có được nhờ vào đó mà nhà văn không có được. Nghề chính của ông là thầy giáo dạy sử nhưng lại dấn thân vào cuộc sống phong trần bụi bặm bằng đủ thứ nghề như buôn gỗ, lái trâu, trang trí nội thất, vẽ gốm, vẽ bìa sách, tuồn sách ế từ nhà xuất bản cho đầu nậu, mở quán nhậu, không từ cả nghề dắt gái… rồi bỏ việc giữa chừng đều vì mục đích mưu sinh. Đọc văn Nguyễn Huy Thiệp cứ thấy rợn rợn gai người. Hầu như quanh ông “chẳng có khuôn mặt nào đáng là mặt người. Mặt nào trông cũng thú vật đầy nhục cảm, không đểu cáng, dối trá thì cũng nhăn nhúm đau khổ!”. Lúc luống tuổi cuộc sống kể ra cũng phong lưu nhưng lại lấy danh nhà văn kiếm cái thẻ bảo hiểm của cái xã hội mà ông ta đã “nôn mửa” vào! Những nhân vật trong văn chương của ông từ kẻ vô học lưu manh tới bậc đế vương dường như cái phẩm chất tốt đẹp nhất của con người là sự lương thiện đã bị giết chết! Một đoạn văn trong Tướng về hưu: “Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các nhau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, không quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu… Vợ tôi nói: Sao không cho vào máy sát?”. Như lưỡi dao sắc lẻm khứa vào lòng ngọt xớt, lạnh dọc sống lưng ám ảnh mãi trong lòng người đọc! Ông Nguyễn Đăng Mạnh viết trong Hồi ký: “Thiệp có tài bịa chuyện như thật. Không phải chỉ trong văn đâu, trong đời sống cũng vậy”. Nhà văn Phùng Quán cũng có tài bịa, như chuyện anh bộ đội về phép, thương mẹ đói lòng, bắc nồi, nhúm gạo, nhóm lửa, chạy đi câu kiếm con cá về nấu cháo cho mẹ ăn: “Anh ném lưỡi câu ra xa, cá đớp ngay. Con cá to quá, kéo cong cả cần. Bụng bảo dạ phải kiên trì. Anh lấy thế đứng thật chắc ghì cho cá mệt lử rồi mới kéo. Sáng bạch vẫn chưa kéo được cá lên. Nhìn sang bờ bên kia, một anh chàng lực lưỡng cũng đang ghì cần câu như anh. Thì ra hai thằng mắc lưỡi câu vào nhau, ghì nhau mà thằng nào cũng tưởng mình câu được cá!”. Cười sằng sặc mà nước mắt cứ chảy ra, thương anh bộ đội, càng thương quá mẹ anh! Những người đọc sách đều biết câu: “Văn như kỳ nhân, quan văn như kiến nhân” (Văn là người, xem văn như thấy người). Trong văn, nhân chính là tâm. Hình như trong giáo trình văn học có dạy rằng: Đề tài tác phẩm có thể nói về tội ác song nội dung tác phẩm không thể là độc ác. Nhân vật chính của tác phẩm có thể là một kẻ bất lương, không còn nhân tính nhưng tác giả nhất thiết ít ra phải là người lương thiện nếu chưa được là tột cùng lương thiện. Đó là nhân tố quyết định giá trị đạo đức của một tác phẩm văn chương. Sự thật thời nào mà chẳng có văn chương giả dối. Nhưng văn giả dối là do người giả dối. Có điều là văn giả dối thì che giấu được nhưng người giả dối trước sau cũng lộ ra.

Người Hy Lạp xưa nhận xét: Văn chương vừa là lời nói, vừa là tình cảm, vừa là đạo đức, tạo nên chân dung đạo đức của nhà văn ẩn sau chân dung nghệ thuật. Từ đấy thái độ đối với một tác phẩm văn học – nghệ thuật cũng thể hiện luôn chân dung của người đọc, của nhà phê bình - lý luận. Đây là sản phẩm đặc trưng của mỹ học và mỹ cảm trong thời đại mà mọi giá trị, kể cả giá trị tư duy trí tuệ của con người chịu tác động không nhỏ trước áp lực của kỹ nghệ marketing hiện đại.

(Còn tiếp kỳ sau)

Nhà văn - Bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 483, 1-2018

Bình luận

 

Bạn không bao giờ thất bại trừ khi bạn ngưng cố gắng (You never fail until you stop trying)

Albert Einstein