NHỮNG MIỀN ĐẤT THIÊNG TRÊN THẾ GIỚI

 

Sự linh thiêng thường được xem là một cái gì dị thường nằm ngoài phạm trù của cuộc sống hàng ngày. Đó là lý do cư dân trái đất xưa xem núi cao hay đảo xa là những chốn thiêng liêng. Sự xa cách của chúng gợi nên sự chia tách với những sinh hoạt thường ngày. Đó là nơi tiến hành lễ nghi tôn giáo và các hành vi huyền bí khác. Đó cũng là nơi tiếp xúc với Thượng Đế và thánh thần.

...

Tượng đá trên đảo Phục sinh ở Thái Bình Dương

Núi cao, đảo xa hay sông dài thường mang ý nghĩa biểu tượng. Đức Moses hạ xuống núi Sinai khi ngài nhận được 10 điều răn từ Thượng Đế. Thần Siva chìm sâu vào trạng thái nhập thần khi thực hành yoga trên đỉnh dãy Hymalaya cao chất ngất. Theo truyền thuyết, vị vua Arthur không bao giờ chết mà chỉ chuyển tới hòn đảo nhỏ Avalon, là nơi mà từ đó ngài sẽ trở về mỗi khi dân Anh cần đến.

Đỉnh Adam là một ngọn núi thiêng cao hơn hai ngàn mét tại các thung lũng tươi tốt xứ Sri Lanka, với lớp lớp các loại bướm mỗi khi xuân về. Được người Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Hindu và Phật giáo tôn kính, cái tên Đỉnh Adam bắt nguồn từ một niềm tin Hồi giáo. Khi trốn khỏi vườn địa đàng, Adam và Eva đã chọn địa điểm tuyệt vời này làm nơi sinh sống. Trên đỉnh núi có một vết lõm lớn giống dấu chân người. Người Hồi giáo tin đó là dấu chân Adam, Phật tử xem đó là dấu chân Phật, còn người Hindu cho rằng đó là dấu chân thần Siva.

Trong một cái hang khoan vào Tảng đá Ayers ở sa mạc nước Úc, thời xưa các cậu bé bắt đầu tham gia các buổi lễ của người Aborigine. Các buổi lễ có nguồn gốc xa xưa đến mức, người Aborigine nói chúng bắt đầu từ Thời đại ước mơ, khi thế giới hình thành. Ayers và Olgas cách đó 20 dặm là những tảng đá cát kỳ lạ mọc trên sa mạc, chúng đổi thành màu đỏ rực mỗi khi có ánh bình minh. Người Aborigine tôn kính chúng đã nhiều thiên niên kỷ. Các hình vẽ trên vách hang tại Ayers đã có từ thời tiền sử.

Trong nhiều thế kỷ sau khám phá của Colombo, các đoàn thám hiểm đã giong tàu dọc bờ biển Thái Bình Dương thuộc vùng đất mới. Năm 1533 nhà thám hiểm Francisco Pizarro tới thủ đô người Inca là Cuzco thuộc Peru. Rồi những người săn lùng kho báu từ bờ biển phía bắc và Peru đột nhập đất liền xứ Colombia. Họ nghe tin về El Dorado (Người vàng), một thủ lĩnh người da đỏ Muisca ở vùng đất mà ngày nay là Bogota và Tunja, và về những lễ hội ở hồ Guatavita cao 3000 m trên dãy Andes. Dường như hồ là kết quả của một thiên thạch khổng lồ rơi xuống từ 2000 năm trước. Người da đỏ cho đó là một thượng đế vàng hạ giới và sống dưới đáy hồ. Nên họ thả lời thỉnh cầu xuống nước.

Mỗi khi cần tìm thủ lĩnh mới, người da đỏ thả một bè gỗ chở vàng và ngọc lục bảo xuống hồ. Vị thủ lĩnh ngồi trên bè, toàn thân bôi dầu và rắc đầy bột vàng phủ kín người. Vàng ngọc được ném xuống hồ, còn vị thủ lĩnh lặn xuống nước để rửa sạch bụi vàng khỏi cơ thể.

Người Muisca và những tộc da đỏ khác trong vùng chế tác những đồ vật vàng tinh xảo mà ngày nay một số được trưng bày ở bảo tàng Oro tại Bogota. Bộ sưu tập của bảo tàng chứa hơn 30 ngàn mẫu vàng, kể cả mẫu vật Balsa Muisca nổi tiếng, một bản thu nhỏ chiếc bè của El Dorado tìm thấy ở hồ Guatavita.

Người Tây Ban Nha tìm thấy hồ nhưng không tìm được lượng vàng thỏa mãn lòng tham, mặc dù đã lặn tìm kỹ lưỡng. Năm 1578 một thương gia giầu có được phép tát cạn hồ với đội nhân công da đỏ nhưng thu được rất ít báu vật. Những cố gắng qui mô hơn ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đều cho kết quả đáng thất vọng.

Từ cái tên chỉ người, dần dần El Dorado chuyển thành danh từ chỉ địa điểm – một địa điểm kỳ diệu, một thành phố hay vương quốc giầu có vượt xa mọi tưởng tượng dường như sẽ xuất hiện ngay sau con sông hay rặng núi phía trước. Và chỉ cần gắng thêm một chút là tìm thấy nó. Chính niềm hy vọng đó đã lôi kéo những nhà thám hiểm châu Âu vượt qua cả đại lục. Dòng sông Amazon nổi tiếng cũng do một nhóm người Tây Ban Nha đặt tên, khi họ thực hiện chuyến thám hiểm đáng ngạc nhiên vào lưu vực của nó những năm 1540. Họ cho biết đã phải đánh nhau với những nữ chiến binh dày dạn “dáng cao, da rất trắng, tóc dài buộc thành bím”. Họ “cởi trần, che chỗ kín, tay cầm cung tên”. Giống như những nữ lực sĩ (amazons) trong thần thoại cổ, họ sống trong một thành phố phụ nữ dưới sự cai quản của một nữ hoàng, gặp đàn ông chỉ để chém giết. Ngày nay người da đỏ trong lưu vực vẫn tin vào truyền thuyết và giữ truyền thống về nữ chiến binh và những ngôi làng phụ nữ. Các nữ lực sĩ được xem là sống trên một hòn đảo tại Hồ Gương trên mặt trăng, quan hệ với đàn ông xung quanh mỗi năm chỉ một lần. Bé gái được giữ lại, còn bé trai được trả về với cha của chúng.

Hòn đảo Iona ngoài khơi phía tây xứ Ê-cốt nằm ở biên giới của người Thiên chúa giáo và người vô tín ngưỡng khi thánh Colomba từ Ireland tới và tìm thấy một tu viện vào năm 563. Nơi đó nhanh chóng trở thành nơi cư trú của một cộng đồng Thiên chúa giáo quan trọng tại Ê-cốt. Quân Na-uy phá hủy tu viện vào thế kỷ thứ IX, nhưng nó mau chóng được dựng lại và trở nên linh thiêng đến mức, người Na-uy cũng tới cầu nguyện. Tuy chỉ là một hòn đảo nhỏ nhưng với vẻ diễm lệ khác thường, đã hàng ngàn năm Iona mang ý nghĩa tôn giáo đặc biệt, đến mức nó trở thành nơi chôn cất của các vị vua Na-uy, Ireland và Ê-cốt cổ.

Một trong những vị trí xa xôi và huyền bí nhất là Đảo Phục sinh trên Thái Bình Dương. Nằm cách Nam Mỹ 2.500 dặm và cách hòn đảo gần nhất tới 1.250 dặm, Phục sinh đã trở thành tiêu điểm của nhiều cuộc tranh cãi dai dẳng. Những thợ xẻ đá kỳ diệu từ đâu đến và hàng trăm pho tượng đá thần bí được dùng để cầu nguyện như thế nào?

Ban đầu người ta nghĩ cư dân đảo Phục sinh từ Nam Mỹ đến, nhưng hiện nay phần lớn giới khảo cổ cho rằng họ có nguồn gốc từ các hòn đảo lân cận. Mặc dù bị cách biệt khỏi quê hương bản quán trong nhiều thế kỷ, cư dân đảo Phục sinh vẫn đủ khả năng và sự tinh tế để tạo ra những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật huyền diệu. Họ tạc tượng bằng đá từ các núi lửa. Các bức tượng có màu vàng xám và mang vương miện bằng đá đỏ. Hàng trăm bức tượng cao từ 3 tới 10 mét nằm rải rác khắp nơi trên đảo. Người ta tin rằng đó là tượng của các thủ lĩnh thị tộc hay bộ lạc và được dùng cho các buổi cầu nguyện.

Trong bộ sách mang tính huyền bí đã bán được hơn 40 triệu bản, một nhân viên khách sạn người Thụy Sĩ tên là Erich von Daniken cho rằng, cư dân đảo Phục sinh xưa không đủ khả năng xẻ và di chuyển đá đi xa nhiều dặm trước khi chạm khắc tượng. Họ cũng không thể dựng các bức tượng khổng lồ đó. Tuy nhiên một số hậu duệ của cư dân xưa vẫn còn sống và họ đã thực hiện thành công quá trình tạo dựng tượng, một việc tốn nhiều thời gian nhưng chỉ cần khá ít người. Nhà nghiên cứu Thor Heyerdahl đã mô tả chi tiết quá trình đó trong tập sách Aku-Aku của ông. Chỉ 7 người với công cụ đá cũng đủ để tạo một mẫu tượng thô trong 3 ngày. Hai nhóm thợ, mỗi nhóm 6 người, cũng chỉ cần một năm để hoàn chỉnh một pho tượng. Để di chuyển tượng trên nền cát, cần khoảng 180 người; còn trên nền đất cứng hơn, chỉ cần không quá 90 người. Để dựng tượng đứng thẳng, cần không quá 20 người. Họ dùng đòn bẩy bằng gỗ để nâng đầu pho tượng lên một chút trước khi chêm đá vào phía dưới. Quá trình cứ tiếp tục cho đến khi pho tượng lấy được chiều thẳng đứng.

Mặc cho những cuộc tranh luận không dứt trong và ngoài giới chuyên môn, ngày nay du khách có thể thông cảm với sự hoài nghi, lòng khâm phục  và nỗi kinh hoàng của những nhà thám hiểm phương Tây khi lần đầu tiên đặt chân lên đảo.

Đỗ Kiên Cường, ANTG cuối tháng, 7-2002

Bình luận

 

Cuộc sống giống chiếc xe đạp. Để giữ thăng bằng, chúng ta phải luôn tiến lên phía trước.

Albert Einstein