NGUỐN GỐC VÀ TIẾN HÓA CỦA TÔN GIÁO DƯỚI GÓC NHÌN NHÂN HỌC TIẾN HÓA

 

Sự xuất hiện của Hội Thánh Đức Chúa Trời mang tính chất tà đạo tại nước ta vừa qua gợi nên nhiều câu hỏi về nguồn gốc, bản chất và tiến hóa của tôn giáo.

...

Tôn giáo là gì?

Với hơn 10.000 tôn giáo lớn nhỏ trên toàn thế giới, không lạ khi các học giả không thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tôn giáo. Có thể xem tôn giáo là một hệ thống văn hóa được thiết kế của các hành vi và thực hành, của thế giới quan, thư tịch, thánh địa, lời tiên tri, hệ thống đạo đức hoặc các tổ chức tôn giáo nhằm kết nối con người với các yếu tố siêu nhiên, siêu hình hay tâm linh.

Đặc trưng căn bản của tôn giáo là tính cộng đồng. Các nghi lễ tôn giáo luôn được thực hiện trước một nhóm các tín đồ. Bản thân từ nguyên religion (trong tiếng Anh) dường như xuất phát từ tiếng Latin religare, có nghĩa là kết nối, đã nói lên vai trò gắn kết xã hội của tôn giáo. Các lễ hội tôn giáo bao gồm nhiều hoạt động cộng đồng gây xúc cảm, như nhảy múa và ca hát, và chúng góp phần củng cố cam kết của người tham dự với hệ quan điểm và đức tin tôn giáo chung.

Xu hướng tôn giáo dường như có bản chất từ bên trong vì nó được tìm thấy trong mọi xã hội trên toàn thế giới trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại. Mà các hành vi bên trong thì được chọn lọc tự nhiên sắp xếp vì chúng có ưu thế sinh tồn. Vậy ưu thế sinh tồn của tôn giáo là gì?

Không ai có thể đưa ra những nhu cầu của các nhóm săn bắt - hái lượm mấy chục ngàn năm trước mà tôn giáo có thể thỏa mãn; nhưng nhiều khả năng là tôn giáo ra đời cùng với ngôn ngữ. Và do ngôn ngữ có thể dùng để lừa gạt, tôn giáo có thể đã được dùng như một phương thức chống nói dối của người tiền sử. Lời thề chỉ nói sự thật khi đặt tay trên cuốn Kinh Thánh tại các tòa án Mỹ có thể xuất phát từ chức năng nguyên thủy này.

Tiếp theo, tôn giáo có thể phát triển thành phương tiện khuyến khích các hành động chung vì cộng đồng trong các nhóm săn bắt - hái lượm vốn không có người thủ lĩnh. Trong các xã hội định cư sau đó, giới cầm quyền dùng tôn giáo để củng cố quyền lực và địa vị của mình. Ngày nay, các quốc gia có nhiều phương phức vận hành thay thế vai trò của tôn giáo, nhưng tôn giáo vẫn tiếp tục là một phương thức gắn kết xã hội hiệu quả, nhất là trong các xã hội đang phải đối đầu với xu hướng ly khai.

Cần nhấn mạnh rằng, một đặc trưng của tôn giáo là sự khuyến nghị những gì sâu sắc hơn lý trí: Các sự thật tôn  giáo được tiếp nhận không phải như các sự thật đơn thuần, mà như những điều thiêng - những điều mà sự nghi ngờ bị xem là phi đạo đức. Và do đó khi mỗi người được sinh ra và lớn lên cùng với ngôn ngữ và tiếng nói chung của một cộng đồng, họ cũng tự động tiếp nhận hệ đức tin tôn giáo của chính cộng đồng đó.

Thời điểm ra đời của tôn giáo:

Có thể xác định tương đối chính xác thời điểm ra đời của tín ngưỡng và tôn giáo hay không? Thật ngạc nhiên khi các nhà sinh học tiến hóa lại có câu trả lời khá xác đáng. Do có mặt trong mọi xã hội trên thế giới, tôn giáo phải xuất hiện trước thời điểm con người rời khỏi châu Phi khoảng 50.000 năm trước. Mặc dù các nghi lễ tôn giáo liên quan với nhảy múa và âm nhạc, nhưng chúng còn được thể hiện qua những tuyên bố bằng lời về điều thiêng, hệ đức tin hoặc những lời tiên tri. Do đó tôn giáo phải ra đời không muộn hơn ngôn ngữ. Nói cách khác, các dạng sơ khai của tôn giáo ra đời không muộn hơn 50.000 năm trước.

Nếu ngôn ngữ và tôn giáo ra đời cùng nhau, nhiều khả năng chúng tương tác và hỗ trợ nhau một cách hiệu quả. Có thể dễ dàng thấy tại sao tôn giáo cần ngôn ngữ (chẳng hạn để thuyết giảng về đức tin); vậy tại sao ngôn ngữ lại cần đến tôn giáo?

Câu trả lời nằm ở lòng vị tha đối ứng, một yếu tố gắn kết cộng đồng cơ bản trong xã hội loài người; và nằm ở tính dễ bị tổn thương của xã hội, khi những người hành nghề tự do có thể lợi dụng ưu thế của hệ thống mà không chịu cống hiến lại cho cộng đồng. Trừ khi họ bị gạt ra bên lề, nếu không xã hội sẽ bị tan rã, vì khi đó tư cách thành viên sẽ mất ý nghĩa. Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, những kẻ lẽ ra bị gạt sang lề đã có một vũ khí mạnh mẽ để đối phó: khả năng lừa dối. Tôn giáo được tiến hóa để chống lại nguy cơ tiềm tàng đối với sự thống nhất của xã hội đó. Theo nhà nhân học Roy Rappaport, sự xuất hiện đức tin và những điều thiêng trong tôn giáo nhằm giúp xã hội tiếp tục tồn tại và phát triển khi phải đối mặt với nguy cơ lừa gạt ngày càng tăng do sự ra đời của ngôn ngữ; cũng như của những người không cùng tín ngưỡng.

Nghiên cứu xã hội nông nghiệp nguyên thủy Maring tại trung phần New Guinea, Rappaport cũng nhận thấy, lễ nghi tôn giáo đóng vai trò lãnh đạo trong một xã hội không có thủ lĩnh và và do đó mang tính bình đẳng đó. Theo ông, các lễ nghi tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành xã hội và sinh thái khi sự tùy tiện bắt đầu gia tăng mà chưa xuất hiện các biện pháp chế ngự thích hợp.

Sự tiến hóa của tôn giáo:

Quan niệm của Rappaport về vai trò của tôn giáo trong các xã hội sơ khai được thực tế ủng hộ khi hai nhà khảo cổ Joyce Marcus và Kent Flannery khảo sát thung lũng Oaxaca thuộc Mexico. Họ đã khảo sát sự phát triển tôn giáo trong vòng 7000 năm, khi những cư dân thung lũng trải qua bốn giai đoạn phát triển xã hội, từ nhữn người săn bắt - hái lượm, tới xã hội định cư bình đẳng, tới xã hội có người thủ lĩnh, và cuối cùng tới nhà nước sơ khai Zapotec. Khi xã hội Oaxaca tiến hóa, tôn giáo cũng tiến hóa theo.

Trong giai đoạn săn bắt - hái lượm, hai nhà khoa học tìm thấy chỉ dấu của một sàn nhảy bằng phẳng, xung quanh được đánh dấu bằng đá. Nó được xem là nơi diễn ra những sự kiện chưa từng có, khi các nhóm săn bắt - hái lượm tụ họp và tiến hành các cuộc tế lễ.

Khoảng năm 1.500 trước công nguyên, cư dân Oaxaca bắt đầu định cư và phát triển nông nghiệp, khá lâu sau vùng Cận Đông. Ban đầu xã hội vẫn còn bình đẳng như trước, nhưng các lễ tế đã mang tính lễ nghi cao. Marcus và Flannery tìm thấy bốn ngôi nhà dành cho đàn ông xếp cùng hướng, dường như được xác định bằng hướng của mặt trời ngày Xuân phân. Điều đó chứng tỏ, các lễ nghi tôn giáo đã được tổ chức vào các thời điểm xác định trong năm, dựa trên các sự kiện thiên văn. Những ngôi nhà có thể chỉ mở cho những người đàn ông được lựa chọn để tiến hành các cuộc tế lễ.

Khoảng năm 1150 trước công nguyên, giai đoạn thứ ba của xã hội xuất hiện, khi người thủ lĩnh sống trong những ngôi nhà lớn, quần áo đẹp, đeo ngọc và đồ trang sức. Những nôi nhà dành cho đàn ông khi xưa được thay bằng các ngôi đền lớn, cũng theo hướng cũ. Lễ nghi tôn giáo trở nên cầu kỳ hơn, với nghi thức đổ máu, từ hành xác, nấu và ăn thịt các nạn nhân hiến tế.

Giai đoạn thứ tư của xã hội Oaxaca, nhà nước Zapotec, xuất hiện vào khoảng năm 500 trước công nguyên, đi kèm với một hình thức tôn giáo phức tạp hơn nhiều. Các ngôi đền bây giờ có nhiều phòng cho một đẳng cấp đặc biệt trong tôn giáo, các tăng lữ.

Sự xuất hiện của giới tăng lữ cho thấy các lễ nghi tôn giáo ngày càng trở nên độc quyền. Nếu dười thời săn bắt - hái lượm, các lễ tế mở rộng cho mọi người thì đến thời các ngôi nhà đàn ông, chỉ một số đại diện cộng đồng mới tham gia tế lễ. Và đến thời nhà nước Zapotec, lễ nghi tôn giáo trở thành độc quyền của các tu sĩ.

Điều gì đã khiến cấu trúc xã hội và tôn giáo tiến hóa cùng nhau? Dường như vai trò điều phối của các lễ nghi tôn giáo trong xã hội săn bắt - hái lượm chưa hề chấm dứt khi các thủ lĩnh và tầng lợp tinh hoa xuất hiện trong các xã hội định cư. Thay vào đó, giới tinh hoa dùng tôn giáo như một công cụ để kiểm soát xã hội và để củng cố đặc quyền. Để làm điều đó, những sự thật mới, cũng mang tính không được nghi ngờ hay phán xét, kiểu “Pharaoh là các vị thần sống”, được thêm vào như những tín điều mới. Truyền thống đó được truyền tới tận hôm nay, như quốc ca Anh quốc “God saves the Queen” hay câu kết trong thông điệp liên bang của các Tổng thống Mỹ “Chúa cứu rỗi nước Mỹ”.

Một vai trò cổ xưa khác của tôn giáo, chống nói dối và bảo vệ cộng đồng trước những người xa lạ, cũng vẫn hiện diện trong các xã hội đương thời. Chẳng hạn giữa những người Do thái tại New York, Mỹ, một số giao dịch nhiều triệu đô la có thể được thực hiện chỉ bằng những cái bắt tay. Người Hồi giáo cũng từng tràn qua châu Phi nhờ thương mại và sự tin tưởng.

Lòng tin và sự gắn kết đặc biệt quan trong trong chiến tranh. Các tôn giáo hiện hành ca ngợi hòa bình trong thời bình; nhưng trong thời chiến, giới tu sĩ hầu hết ủng hộ các quyết định quân sự quốc gia. Theo nhà sinh học Edward Wilson, tôn giáo có sức mạnh đặc biệt trong thời chiến và trong giai đoạn bùng nổ kinh tế, khi quyền lợi của quân chúng hòa quyện với quyền lợi quốc gia.

Tại sao ngày nay tôn giáo vẫn giữ được vai trò gắn kết xã hội, khi các xã hội hiện đại có nhiều định chế chính trị và văn hóa để thay thế? Đó là do với nhiều người, tôn giáo dường như là một bản năng sinh học. Tuy nhiên đây là một vấn đề nằm ngoài khuôn khổ bài viết này.

Đỗ Kiên Cường, 3-8-2018

Bình luận

 

Cuộc sống giống chiếc xe đạp. Để giữ thăng bằng, chúng ta phải luôn tiến lên phía trước.

Albert Einstein