LAN MAN TRƯỚC PHÚT GIAO THỪA

 

...

Chợ nổi Cái Bè

Đêm 30, ngoại tôi và tôi bước ngắn bước dài, ì à ì ạch dắt tay nhau lội bộ hơn 2 cây số tìm nhà bác sĩ mua thuốc cảm cúm cho ông tôi. Ông tôi thương binh loại 4/5, là dân đặc công thời đánh Mỹ, thương tích sẹo lớn sẹo nhỏ đầy mình. Cái Bè đêm 30. Trên những mái nhà núp bóng trong những hàng cây ăn trái, vầng trăng non hắt trên phiến lá lóe lên những ánh xanh đen hình bán nguyệt, rung rinh trong gió, trông như hàng loạt con mắt long lanh đang nhìn về dòng sông ánh bạc ánh đỏ hiền hòa. Bỏ lại 2 con chó đang rên ư ử phía bên kia cầu khỉ vì mỗi lần bà tôi đi đâu chúng cũng đi theo, mà chỗ cầu khỉ này chúng không qua được. Những hôm bà tôi đi xa hàng ngày chúng nhịn ăn nhịn uống ra đó nằm chờ bà tôi về. Men theo con đường cái tráng nhựa, uốn lượn theo bờ sông đến tận chân cầu chợ An Hữu mới tới nhà bác sĩ.

Ở quê tôi, nhất là những xóm ấp xa, người dân cả ngày chỉ tính toán việc mùa vụ đồng áng hay buôn bán lam lũ này, nên việc phải lội bộ những quãng đường dài hàng cây số là thường tình. Tôi nhớ hồi bé thường nghe bà ngoại kể: “Hồi xưa thằng Mỹ nó lùng sục vào tận đây, bắt Việt Cộng, du kích, còn mấy thằng ngụy thứ dòng khốn nạn, cưỡng hiếp phụ nữ con gái không kể hết…”. Trong đôi mắt ngoại ngầng ngậng một tầng sương giăng phủ một miền xa xăm mà có lẽ cả đời tôi cũng không thể thấu hiểu hết được những gian truân ở đó.

Trước đây, nguyên vùng đồng bằng miền Tây 12 tỉnh tính từ Long An đến mũi Cà Mau đều hoang dại phủ màu rừng xanh. Sở dĩ ngày nay có những chi lưu nhỏ chảy quanh, ngăn đôi ngăn ba ăn sâu vào những mảnh vườn nhà là do trâu lội nhiều năm mà thành. Cũng có những mương nước dài hơn trăm bước chân khi xưa từng là đường hầm du kích, vài nơi tù đọng còn do bom mìn nổ mà thành. Cũng nhờ vào những dòng sông cuồn cuộn phù sa, người nông dân chân phương từ trăm năm đã cắm dùi lên mảnh đất này mà gieo trồng, tăng gia sản xuất, phong tục tập quán theo đó cũng bắt rễ nở hoa. Tuy nhiên, mảnh đất bề ngoài trông yên bình lành lặn này đã một thời cùng Đất nước trải qua cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Với bậc ông cha lớn tuổi, đó là ký ức bi hùng, còn với bọn trẻ chúng tôi là những bài học từ câu chuyện kể của ông bà về những người anh hùng như Trương Công Định ở đám lá tối trời Gò Công Đông thời chống Pháp xa xưa, như Anh hùng – Liệt sĩ diệt Mỹ – Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Thị Hồng Gấm thời kháng chiến chống Mỹ. Quá khứ oanh liệt đó còn ám ảnh người lính già suốt những năm sau hòa bình như ông ngoại tôi…

*
Đêm 30 trời se se lạnh, con đường bờ sông loang loáng những hạt lưu li nhuộm bạc đầu sóng. Đôi bóng dài bóng ngắn theo nhịp thở bà và tôi nhập nhằng trên mặt đường, băng băng qua trên những tán cây. Không gian khuếch đại tiếng thì thầm to nhỏ về những mẩu chuyện vụn vặt con con… Chốc chốc buồn buồn, tôi lại ngó lên vòm trời cao: Chao ôi bầu trời quê tôi sâu thẳm, trong veo, lấp lánh ngàn sao rọi xuống như rọi về ngàn năm nguyên thủy, như hạt thủy tinh rỏ xuống đáy lòng một tiếng đoong trong trẻo! Đêm nay, tôi ngó thấy có đôi mắt trong veo, có tiếng thở phò phò quen thuộc, có bàn tay cục mịch, có hương thơm bà tôi… Chợt bà tôi chỉ lên trời cao, nói với tôi: “Ừ, đó là sao con bọ cạp, sao thiên nga, sao bắc đẩu, thấy sao bắc đẩu là biết ngay đường về!”, rồi lặng lẽ tôi thấy trên chiếc cổ ẩn hiện chi chít nếp gấp ngoại tôi, có những giọt sao lấm tấm trượt dài…

Từ những năm tôi lên 9, 10, nhà có điều kiện hơn, cha mẹ xây cho ông bà ngôi nhà tường đường hoàng hơn. Già nửa đời người, bà và ông tôi sống trong mái lá vách đất, của cải trong nhà thứ quý giá và khang trang nhất là trang thờ Phật Quan Âm, Bác Hồ, Ông Bà. Nhà nếu có đường cùng ông bà tôi cũng chẳng bao giờ bán bộ lư đồng ông cố để lại, bởi bộ lư đó là hội tụ tất cả những tinh hoa tinh thần cùng tín ngưỡng được truyền qua các thế hệ trong gia đình tôi.

Hồi nhỏ, tôi nhớ mỗi khi ngồi chồm hổm dưới đất lại phát khóc lên vì ghẻ sốn, đêm đêm chỗ nào cũng nghe thấy tiếng muỗi vo ve bên tai, mỗi trưa hè đều bực dọc bởi dàn âm hưởng tiếng ve đinh tai nhức óc, lại nghe thoang thoảng cọt kẹt tiếng quạt tay có mùi dầu dừa xoa tóc của ngoại bay ra từ cái nón lá… Nắng lập lòe trên những phiến lá nhìn lên, chim ríu rít chuyền cành, gió vi vu đưa câu hát của bà “Ầu ơ a…a… gió đưa cây cải về trời… a…a… rau răm ở lại… a… chịu đời đắng cay…”, rồi dần lịm vào giấc ngủ…

Độ tháng 8 ngày hè, vui nhất là khi sáng ngày mở mắt, chạy ra nghe dưới chân bì bõm tiếng nước, dòm quanh sân vườn ngó thấy khắp nơi toàn nước đục ngầu, con cá trê đen ngòm ngòm nằm ngay đơ, tép búng càng làm nước gợn thành những vòng tròn đồng tâm, những con cá lìm kìm li ti, cua lội nước bò ngang, lươn đục sình, bụng ươm vàng… rồi ngây ngô hò hét “có lũ có lũ!”. Hồi đó tôi nào biết thế nào thì là con nước lên, thế nào là triều cường? Quê tôi người dân không sợ lũ, họ mong con nước về như nắng hạn gặp mưa rào, họ sống theo con nước, mong dòng phù sa giàu có từ thượng nguồn đổ về. Ở đây lũ đến lành như đàn én gặp xuân, sống với lũ cũng như sống với người thân quen ruột thịt. Chiều chiều nước rút, văng vẳng bên tai tiếng bìm bịp kêu chiều, xách rổ ra hầm cá, thò tay mò mẫm vách sình, chỉ sau nửa giờ là bắt được đầy rổ ốc, rồi ra vườn hái lá cách, chặt bắp chuối non, nấu canh ốc. Giữa mương cá mọc giàn bông súng nước, hoa súng nở bung tím sẫm, rắn rỏi vươn mình kiêu ngạo, lội xuống hái một rổ đem ra chụm củi nấu nồi canh chua cá lóc không một loại sơn hào hải vị nào sánh bằng! Hương vị quê hương chỉ cần có thế là cảm thấy đủ hạnh phúc.

Mỗi độ xuân về Tết đến, lại thấy lá cờ đỏ sao vàng còn in nếp gấp tinh khôi như buổi đầu Giải phóng được ông tôi giăng trước sân. Trông cờ như trông thấy Tổ Quốc mình gần ngay trước mắt! Ngày trước đi học, sáng nào cũng trông thấy trên cột cờ sân trường lá cờ phần phật bay cao, nhưng cảm giác khi ngắm nhìn lá cờ đỏ treo trên cọc tre mảnh khảnh, thân xanh úa ngà ngà – được vót gọt trau chuốt tỉ mỉ bởi ông tôi – bay phấp phới giữa vòm trời hoa mai vàng tươi, lòng mới nhận thấy rõ: “Quê Hương mình là đây! Tổ Quốc mình là đây!”. Chiều muộn hôm ấy, nghe tiếng chó sủa động rộn khắp sân vườn, tôi bèn chạy ra, trông thấy xa xa có mái đầu bạc trắng lấp ló đang tiến tới. Ông ngoại già yếu chợt đứng dậy mỉm cười phấn khởi, bà ngoại vội vội vàng vàng gạt hết mọi việc làm dang dở, vừa cười vừa khóc, mắt đỏ hoe, mẹ tôi cũng chạy ra mừng rỡ. Sau mới biết, người đến trong chiếc sơ mi trắng chỉnh tề, có mái tóc bạc, hàm răng ngả vàng, nụ cười trầm vang rất hiền ấy là người thầy giáo đã từng dạy mẹ tôi hồi nhỏ, còn là người đồng chí của ông tôi, lặn lội về đây xin thắp nén hương cho ông cố bà cố, và cả những người đã ngã xuống trên mảnh đất quê nhà này…

Độ hăm tám hăm chín Tết, ngoại tôi lại xách máy, giựt dây, tiếng động cơ vang lên tạch tạch, đẩy xuồng chở mẹ con tôi đi chợ xuân. Không khí những ngày đón Tết tràn ngập hương vị: mùi mốc của rơm, mùi tanh mát theo hơi nước âm ẩm, mùi hoa cúc, mùi tắc, mùi quần áo mới… Chợ quê tấp nập người người đi đi lại lại, xung quanh văng vẳng thanh âm mời gọi ngọt lịm, trong trẻo, người dân ăn vận đủ dạng sắc thái, trông chợ vui mắt như đang lạc giữa một vườn chim anh vũ! Hương vị ngày Tết rộn ràng như thế, càng đọng lại lòng người một sự tiếc nuối khôn nguôi!

Chiều, trên con xuồng máy chạy về xuôi, ráng chiều nhuộm dòng sông ửng hồng, vòm trời cao xanh, mây trắng xô nhau lả lướt, gió thốc lạnh buốt cả da thịt! Ngắm nhìn những tảng lục bình trôi mải miết về phương Đông, rung rinh từng chùm hoa tím, lại ngoái đầu nhìn bà tôi đôi mắt hiền hòa, mạnh mẽ vịn chặt tay lái rẽ sóng nước, lòng thầm biết ơn tạo hóa nơi đây đã nuôi dưỡng tâm hồn của bà tôi thật chân chất và hiền hòa!

Đêm xuống, bên bếp lửa bập bùng, canh nồi bánh tét đương ùng ục sôi. Hương khói tỏa lên cay xè mắt, những hạt tro xám là là trên nền đất, con mèo lười mặt dính lọ cuộn tròn nằm ngủ, giăng võng nằm dưới tán me ngó lên cành cây nhìn đàn gà rậm rạp lừ lừ đương thiêm thiếp, nghe tiếng bà thủ thỉ chửi chó mắng mèo theo tay vuốt ve, vỗ vỗ, rồi chợt nhớ đến Tết năm nay nhà xóm giềng lại giết chó làm cỗ, trông thấy mắt bà tôi đọng một tầng nước trong… Thời điểm vui nhất là khoảng một tuần trước Giao thừa, nhà nhà mong đợi, ai nấy đều háo hức. Ông bà tôi dịp Tết lại rất mong quà bánh từ gia đình tôi mang về. Bởi cuộc sống trước kia và hiện tại đều thiếu thốn nên mỗi món bánh, trà hay áo quần và các thứ đồ đạc mà “gắn mác thành phố” thì sẽ nhanh chóng thành của ngon vật lạ. Nhưng tôi lại cảm thấy cái nguyên do của niềm vui này là từ chúng tôi mà ra chứ nào phải từ những thứ quà cáp lỉnh kỉnh kia! Đó là lúc lòng mong mỏi của người già mỗi độ Tết đến lại thấy con cháu về thăm mình, thăm quê hương xứ sở được đáp lại.

Trước đêm 30, ông bà tôi đều nán lại, chờ đến những phút giây đếm ngược. Màn hình ti vi đã bắt sẵn Đài THVL 1 từ lúc 7 giờ tối sau bữa ăn. Tôi đứng trông dáng vẻ tất bật ục ịch đến ngộ nghĩnh của bà tôi khi chuẩn bị bày biện các thứ bánh trái, giấy tiền vàng bạc… trước hiên nhà. Trên bàn Ông Thiên, trang bàn thờ Phật, thờ Bác, thờ Ông Bà, cho đến bàn thờ Ông Địa Thần Tài, đâu đâu cũng thấy nghi ngút nhang đèn khói lửa! Giây phút ấy, bỗng trong tôi rạo rực cảm giác thiêng liêng kì diệu, ngay cả con chó con mèo hình như trong chúng cũng có một phần tâm linh, có thể cảm thấy chung quanh hiện hữu một cánh cửa vô hình đương từ từ mở ra, tỏa ra một lực hút, kéo toàn bộ thế giới vào trong nó. Lập tức mọi thứ đều thay da đổi thịt, mới mẻ và thú vị! Ngoài kia, bà tôi đang đốt giấy tiền vàng bạc, miệng thủ thỉ tâm tình gọi tên những người tôi không bao giờ biết mặt: Ông Bà cóc, Ông Bà cố, cả những người du kích đồng đội của ông bà trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày trước.

Quê tôi nổi tiếng có cây cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long. Cầu cao 200 mét, từ vườn nhà ngoại nếu trèo tọt lên ngọn dừa hay ngọn vú sữa… đều có thể trông thấy dáng dấp cầu ẩn hiện đằng xa. Những năm trước mỗi độ giao thừa người ta lại bắn pháo bông bên bờ sông Mỹ Thuận. Từ truyền hình phát sóng trực tiếp phát ra âm thanh lụp bụp tiếng pháo, hai người già chăm chú dõi theo, đôi mắt đang cười. Chợt xa xa trên những nhánh bần rợp bóng bên dòng sông, tôi thấy lấp lánh những hạt lưu li đang nhẹ nhàng bay lượn - đom đóm thắp đèn đổ ra khắp nơi từ những bụi cây, dịu dàng nhảy múa, bỗng thấy trong lòng mừng rỡ reo lên “Kìa, vườn cây cũng đang lên hoa, đón mừng năm mới!”.

*
Đắm chìm trong cảm xúc miên man, tôi theo bà về đến chiếc cầu khỉ khi nào không biết. Hai con chó bên kia cầu bắt hơi chủ từ xa, đã đứng vẫy đuôi mừng và rên ư ử…

Về đến sân nhà thấy ông tôi chống gậy đứng trước sân, mặt mày căng thẳng:

- Nghe nói tụi lính đã tràn tới từ cầu An Hữu phải không bà?

- Đã 41 năm qua rồi ông ơi! Còn lính tráng nào nữa. Vào nhà uống thuốc mau.

Tôi khoát tay dìu ông bước lên mấy bậc thềm gạch, vào nhà. Lúc đó nghe có tiếng nổ lụp bụp trên trời, ánh sáng xanh đỏ chiếu xuyên qua tán lá cây xoài, mới biết là giao thừa, pháo hoa bắn lên từ cầu Mỹ Thuận…

Cuối năm 2017

Nguyễn Thùy Vân, (Học sinh), Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số Xuân 2018, online, 12-2-2018

Bình luận