KINH ĐÔ TRONG NÃO BẠN

 

Có thật sự tồn tại ngôn ngữ giữa động vật?

...

Nghiên cứu của nhà sinh vật học Con Slobodchikoff (Mỹ) về “Prairie dog” - có thể gọi là chó đồng cỏ, hay sóc chó (trên thực tế nó là loài gặm nhấm, không phải chó đâu) - đã chứng minh không những chúng có ngôn ngữ, mà còn có cả một hệ thống ngữ pháp.

Ông nhận ra chúng có sự nhạy cảm ngay cả về những khác biệt nhỏ như giữa các từ “con sói” và “chó thuần chủng”. Ngôn ngữ của loài sóc chó bao gồm cả tính từ, miêu tả kích thước, hình dạng và màu sắc; đem lại cho chúng khả năng miêu tả cả những thứ chúng chưa từng nhìn thấy.

Slobodchikoff dự đoán chỉ sau khoảng mười năm nữa chúng ta sẽ thành công trong việc chế tạo máy dịch ngôn ngữ động vật.

Tiến sĩ Denise Herzing đã nghiên cứu ngôn ngữ cá heo từ năm 1985. Ngôn ngữ của loài cá này rất phức tạp vì chúng sử dụng tiếng huýt sáo, sonar (*), âm thanh và tiếng còi cao tần. Cô đã thiết kế nên cả một chương trình để giao tiếp với cá heo, nhưng cho đến giờ họ chỉ mới có thể xác định được một vài danh từ.

Tôi có nuôi một con mèo. Mặc dù đáng yêu nhưng nó cực kỳ lười biếng, chỉ thích ở nhà ngủ không thích gặp ai dù là mèo hay người, ngay cả tên chủ nó là tôi. Mèo của tôi có ngôn ngữ riêng không?

Tôi thử hỏi câu đó với nhiều người và đa số trả lời “có”. Nhưng mèo của tôi thực ra không biết gì hết vì nó không được học, không tiếp xúc với các con mèo khác để học.

Sở dĩ tôi nghĩ vậy vì tôi đã tự hỏi: “Một con cá heo từ biển nước Anh bơi qua biển châu Phi chơi và gặp một con cá heo khác. Chúng có thể giao tiếp được với nhau không?”.

Điều đó cũng như tôi là người Canada, tôi được dạy tiếng Anh từ nhỏ nên khi đến Việt Nam tôi không thể giao tiếp với người Việt được. Hai con cá heo từ hai vùng khác nhau cũng sẽ không thể hiểu nhau.

Baby talk là từ chỉ ngôn ngữ của em bé. Những đứa bé có thể dùng tất cả âm thanh con người có, sử dụng tất cả phiên âm của mọi ngôn ngữ. Nhưng khi chúng bắt đầu học ngôn ngữ của bố mẹ thì chúng cũng bắt chước phiên âm của ngôn ngữ đó luôn.

Trong não chúng ta có các đường dẫn thần kinh, cứ mỗi điều mới được học là một đường dẫn mới được hình thành.

Giống như khi chúng ta vừa đến một thành phố mới, lạ lẫm và không biết đường đi, bắt buộc phải phụ thuộc vào bản đồ của Google hay người dẫn đường. Lúc bắt đầu ta nhận biết đường rất chậm là do những đường dẫn thần kinh mới chưa được hoàn thiện. Nhưng dần dà việc nhận biết các con đường trở nên nhanh chóng hơn, càng đi qua nhiều đường, càng có nhiều dây dẫn mới.

Khi chúng ta học ngôn ngữ cũng thế, từ mới nào lúc bắt đầu cũng khó nhớ. Dùng từ đó nhiều lần thì ta lại cảm thấy nó thật dễ dàng, không cần phải tốn thời gian suy nghĩ “phải dùng từ nào cho đúng” như lúc ban đầu.

Khi tôi học tiếng Anh, tôi tập trung vào xây càng nhiều đường càng tốt, và chú ý xây nó thật vững chãi. Tất cả những cấu trúc ngữ pháp, từ vựng và cách sử dụng chúng... tôi đã tạo nên cả một thành phố bằng đường dẫn thần kinh.

Hệ thống ngôn ngữ mỗi nơi khác nhau, nên “thành phố” trong mỗi người cũng đều khác. Trong đó “cultural narratives” góp một phần thiết kế nên “con đường”, thế nên lối suy nghĩ của mỗi chúng ta cũng hoàn toàn khác. “Culture narratives” (chuyện tự thuật mang tính văn hóa) là những câu chuyện xã hội mang ảnh hưởng của văn hóa kể về đời sống của chính cá nhân đó. Câu chuyện kể về nàng Cinderella (cô bé Lọ Lem) chính là một trong những ví dụ cụ thể nhất; qua câu chuyện của cô bé mồ côi đáng thương phải chịu sự áp bức của bà mẹ ghẻ và hai người chị kế tham lam, tác giả muốn nhấn mạnh bài học đạo đức cho mỗi cá nhân và truyền tải thông điệp những kẻ ác nhất định sẽ bị báo ứng.

Các câu chuyện trong sách không chỉ là một loại văn tự thuật, mà còn là những suy nghĩ được đúc kết trong xã hội qua từng thời đại.

Ví như ở Canada việc ăn uống nhậu nhẹt chỉ được chấp nhận trong tối thứ Sáu và cuối tuần; còn những ai nhậu vào các ngày còn lại có thể bị gọi là “bợm nhậu”, “trẻ trâu”, hay những kẻ không đàng hoàng. Ở Việt Nam thì khác, quán lẩu dê gần nhà tôi hôm nào cũng hết bàn dù ngày thường hay cuối tuần.

Những loại tự thuật này chỉ là tập hợp những suy nghĩ, ý kiến, không có thực thể và không thể nhìn thấy. Giống như khi ta yêu thích thứ gì đó, đó chỉ là suy nghĩ do bản thân tạo dựng, ta không thể nhìn thấy nó. Tết truyền thống ở Việt Nam về cơ bản cũng là một loại tự thuật mang tính văn hóa; mọi người được nghỉ làm trong khoảng một, hai tuần (hoặc hơn), người lớn phải chuẩn bị tiền để lì xì trẻ nhỏ... Chung quy, đó cũng chỉ là ý tưởng thiết kế và thay đổi hành vi của mọi người.

“Đường dẫn thần kinh” của tiếng Việt được xây dựng rất khác so với tiếng Anh. “Hierarchy languages” gọi là những ngôn ngữ có phân cấp, thứ bậc; vì mỗi một đại từ của nó sẽ áp đặt cả suy nghĩ của người sử dụng ngôn ngữ này. Như trong tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc và một số từ trong tiếng Nhật (watashi - tôi, ore - tau, atashi - em (nữ), kisama - mày), những đại từ khác nhau sẽ dẫn tới những hành vi khác nhau đối với người sử dụng, cả mức độ tôn trọng cũng thế.

Trẫm - khanh. Anh - em. “Con chào chú. Dạ, cảm ơn chú”.

Tiếng Anh thì chỉ có hai đại từ, I và you - tôi và bạn.

Để nói chuyện với người Việt đầu tiên chúng ta phải biết tuổi tác của họ, rồi sau đó mới xác định xưng hô ra sao. Nếu số tuổi cao hơn thì kéo theo một loạt hành vi ứng xử khác như “dạ” khi trả lời, đưa đồ bằng hai tay và rất nhiều phong tục biểu lộ sự kính trọng khác nữa.

Khi tôi sống ở Thái Bình, đôi khi đã tan ca nhưng tôi vẫn còn bị ép buộc đi nhậu với sếp và đồng nghiệp. Không ai dám từ chối ông sếp. Nếu lúc còn ở Canada mà sếp bảo tan ca đi nhậu nhé tôi sẽ thẳng thừng “không” mà không phải cân nhắc gì.

Những đường dẫn thần kinh được xây nên từ ngôn ngữ kết hợp với “cultural narratives” đã “tẩy não” mọi người, khi ta suy nghĩ, khi đưa ra quyết định, nó là thứ đứng sau giật dây cho mọi hành vi của mình.

Vì vậy, khi người phương Tây và phương Đông gặp nhau lần đầu tiên, rào cản văn hóa có thể khiến họ hiểu nhầm nhau, hay tệ hơn là xúc phạm nhau.

Cho nên, vấn đề không chỉ ở chỗ “chỉ cần học tiếng Anh là đủ ra nước ngoài rồi” mà còn ở chỗ cần thấu hiểu nhau qua “cultural narratives”.

Tôi thường nói với bạn mình, hãy nhớ ví dụ này: Ở vườn nhà tôi có một con cóc, và thế giới của con cóc chỉ gói gọn trong cái vườn nhà. Tôi nuôi một con mèo, và căn nhà của tôi là cả thế giới của nó. Ngoài căn nhà này ra con mèo không biết gì cả, thế nên nó thấy thế giới bên ngoài đáng sợ và luôn xù lông mỗi khi bị ép ra ngoài. Tôi từng sống ở Thái Bình một thời gian và nhận thấy rất nhiều người ở đó không biết tiếng Anh, thậm chí là không muốn biết. Cuộc sống của họ chỉ xoay quanh Thái Bình, đi làm, lập gia đình, mua nhà, nhậu nhẹt với bạn bè... Một cuộc sống an phận. Chẳng ai nói muốn đi nước ngoài cả, họ sợ lạ nước lạ cái, sợ bất đồng ngôn ngữ. Cậu có thể sống một cuộc đời như con mèo, từ chối sự tiếp cận của thế giới bên ngoài. Nhưng đó là một cuộc sống đáng chán, và nó chỉ phù hợp nếu cậu là mèo. Càng học nhiều, càng hiểu biết nhiều thì thế giới của mình càng rộng lớn hơn. Tùy cậu thôi, quyết định sống trong nhà hay chọn mở cửa bước ra thế giới là ở cậu.

Chung quy lại, mọi thứ đều xoay quanh bản ngã và cách ta nhìn nhận thế giới. Chỉ cần thay đổi lăng kính dù chỉ một chút, cuộc đời sẽ chuyển hướng một cách đột ngột. An phận và sống trong định kiến chỉ là những lối đi dẫn tới con đường cụt. Chúng ta khác với động vật là vì chúng ta đã không chấp nhận một cuộc đời đáng chán. Loài người có suy nghĩ, vì vậy đừng lãng phí nó, hãy tận dụng hết cơ hội để xây thêm các đường dẫn thần kinh, hãy xây nên cả một kinh đô mới trong não bạn. 

Jesse Peterson, TBKTSG, 22-2-2018

(Nguyên bản tiếng Việt)

(*) Viết tắt từ tiếng Anh “sound navigation and ranging”, là một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền âm thanh (thường là dưới nước) để tìm đường di chuyển, liên lạc hoặc phát hiện các đối tượng khác.

Bình luận