GIÁO ĐƯỜNG CỦA CRUYFF 3

 

Cruyff không sinh ra ở Catalan, nhưng người dân xứ này tôn ông làm Thánh. 

...

Trong vai trò HLV, Cruyff xây dựng nên một Đội hình trong mơ, gặt hái các danh hiệu, mở ra kỷ nguyên thành công rực rỡ nhất lịch sử cho Barca

Vì Cruyff đã hoàn toàn làm thay đổi diện mạo và tầm vóc đội bóng này. Khi Cruyff đến Tây Ban Nha vào năm 1974, Barca đang trải qua một cơn khô hạn danh hiệu. Cuối mùa bóng đầu tiên của Cruyff ở đó, Barca giành chức vô địch La Liga đầu tiên sau 14 năm. Các cule mau chóng tôn ông thành El Salvador (Đấng cứu thế) cho danh hiệu này. Nhưng lúc này, văn hóa bóng đá Tây Ban Nha vẫn chưa thay đổi. Quốc gia này vẫn đang được cai trị dưới chế độ độc tài, họ đề cao tinh thần lăn xả, quyết liệt. Những hậu vệ kiểu như Andoni Goikoetxea (với biệt danh nghe ớn lạnh là... Gã đồ tể Bilbao) mới được xem là biểu tượng.

Nhưng khi Cruyff trở lại Barca trên vai trò HLV hồi 1988, độc tài Franco đã chết được 13 năm và Tây Ban Nha đã là một quốc gia dân chủ. Trong vài năm sau đó, ông đã tạo ra đội hình Dream Team huyền thoại bằng cách kết hợp những ngôi sao nước ngoài như Hristo Stoichkov, Ronald Koeman, Romario và Michael Laudrup với những cầu thủ tự đào tạo như Pep Guardiola. Đội hình trong mơ ấy giành bốn chức vô địch La Liga liên tiếp từ 1991 đến 1994, đồng thời giành Champions League đầu tiên trong lịch sử. Từ ấy, cả Tây Ban Nha đều muốn chơi như Barca.

Và cũng từ giây phút ấy, totaalvoetbal trở thành một thứ chuẩn mực mới của bóng đá. Thế kỷ thứ 19, người Anh sáng tạo ra bóng đá, như một môn chơi để khiến cho người ta quên đi nỗi đau chiến tranh. Người Brazil chơi bóng, đề cao cảm xúc cá nhân của dân tộc và và tạo nên joga bonito. Người Ý bị ám ảnh bởi chiến thuật và cấu trúc nghĩ ra catenaccio. Người Đức đề cao kampfgeist (tinh thần vượt khó) đã chơi một thứ bóng đá cực kỳ khoa học và khô cứng.

Cruyff và Michels nâng bóng lên một tầm cao mới, vừa đẹp, lại vừa cực kỳ sáng tạo, thông minh. Nếu bạn đẩy đội hình lên cao một phần ba sân, toàn bộ đội hình của bạn sẽ toàn lực khai thác hai phần ba sân còn lại. Diện tích giảm xuống, nhân sự tăng lên, hiệu quả tăng theo. Đấy cũng chính là nếp sống, nếp nghĩ của người Hà Lan. Suốt hàng thế kỷ, người Hà Lan bị ám ảnh bởi không gian. Bởi vì họ là một quốc gia nhỏ, phải luôn tìm cách lấn biển để tăng thêm diện tích sử dụng. Không gian cũng là chủ đề chính trong tranh của Vermeer, Saenredam và Mondriaan. Nó cũng hiện diện trong kiến trúc và quản lý đất đai. Và totaalvoetbal cũng đã ra đời từ nỗi ám ảnh không gian ấy.

Một ngôi nhà ở Hà Lan cũng giống như sân cỏ Hà Lan, tuy diện tích cố định, nhưng không gian sử dụng lại là một điều hoàn toàn có thể linh hoạt. Vậy totaalvoetbal là một hệ thống chiến thuật hay là một lý tưởng? Tranh cãi vẫn tiếp tục cho đến những ngày nay.

Đầu thập niên 1970, những trong những phát kiến của Michels là sự thay đổi vị trí giữa các cầu thủ trên sân. Cầu thủ tấn công lui về phòng ngự, hậu vệ xông lên ghi bàn. Đội hình vẫn là 4-3-3, nhưng các vị trí trên sân không còn cố định nữa. Người này khởi đầu trận đấu là hậu vệ cánh, kết thúc trận có thể đang đá tiền đạo.

Thời gian trôi qua, trận đấu diễn ra nhanh hơn, không gian trên sân ngày càng bị thu hẹp bởi cầu thủ ngày càng có ý thức phòng ngự và giữ cự ly tốt hơn. Việc thay đổi vị trí thi đấu của các cầu thủ, tăng số lượng cầu thủ tham gia vào các pha bóng khiến đối phương rối loạn và tạo ra một trào lưu chiến thuật mới.

Từ cái gốc là Michels, Cruyff đã nâng tầm totaalvoetbal thành một triết lý. Và từ triết lý ấy, những nhân vật kiệt xuất của Hà Lan khác tạo ra những ngả rẽ. Cruyff là người tin vào sự sáng tạo cá nhân bởi bản thân ông thuở còn thi đấu là một cầu thủ bùng nổ. Nhưng khi Ajax vô địch Champions League hồi 1995, Louis van Gaal triệt triêu sở thích lừa bóng của các cầu thủ. Với Van Gaal, khái niệm ngôi sao không tồn tại, thay vào đó là nỗi ám ảnh về kiểm soát bóng và luân chuyển bóng ở tốc độ cao.

Cruyff và Van Gaal ghét nhau vô cùng, và không ai hiểu vì sao, đặc biệt là khi những đội bóng ưng ý nhất của họ chơi thứ bóng đá gần như tương đồng. Họ sinh ra và lớn lên rất gần nhau, nhưng có vẻ như Van Gaal thích xem mình là môn đồ của Rinus Michels hơn là của Cruyff.

Dennis Bergkamp, một trong những huyền thoại khác của bóng đá Hà Lan, ngả theo đường lối của Van Gaal. Anh bảo mình "không tin" vào việc lừa bóng. Bản thân anh là một kỹ thuật gia siêu hạng, nhưng anh chỉ lừa bóng khi thật sự cần thiết. Còn lại, anh thích chuyền bóng và di chuyển để tạo ra khoảng trống hơn. Với người Hà Lan, khoảng trống thật sự là một món quà.

Đến thập niên 2000, tiki-taka từng bước được hình thành từ totaalvoetbal.Năm 2008, Tây Ban Nha lên ngôi với triết lý ấy, và họ ngự trị trên đỉnh cao đến tận năm 2012. Trong vòng năm năm, họ giành hai chức vô địch Euro và một chức vô địch World Cup. Cách chơi của tiki-taka khiến Dream Team của Cruyff năm 1990 nom rất chậm chạp. Nhưng nó vẫn là một hình thái khác của totaalvoetbal mà thôi. Pep Guardiola khẳng định đấy vẫn là di sản của Pep và Barcelona vẫn là thánh đường mà Cruyff có công xây dựng. Tối ưu hóa không gian xử lý bóng, thu hẹp không gian của đối phương vẫn là yếu tố tiên quyết của chiến thuật này.

Những ngày này, pressing (dịch nôm là là gây sức ép) đã trở thành một phần không thể thiếu của trận đấu, cũng như cỏ, vạch vôi, lưới trong khung thành. Tất cả đều là những phát kiến từ Hà Lan.

Trong thập niên 1960, một cầu thủ vĩ đại khác của Hà Lan cũng tên Johan - Johan Neeskens - đã góp phần tạo ra trào lưu pressing này với cách chơi của ông. Là một tiền vệ thủ, Neeskens thường xuyên phải theo kèm tiền vệ tấn công của đối thủ, không cho anh ta tung ra những đường chuyền. Để thoát khỏi vòng kềm tỏa của Neeskens, tiền vệ đối phương thường phải lùi rất sâu để nhận bóng. Thay vì giữ nguyên vị trí, Neeskens theo luôn qua phần sân đối phương.

Từ ấy, Michels chợt nghĩ: tại sao một mình Neeskens mà không phải là toàn đội dâng lên để cùng gây sức ép. Nếu lấy bóng ở sân nhà, một đội bóng phải vượt quãng đường 2/3 mặt sân để phản công. Nhưng nếu lấy bóng ngay trên sân đối phương, quãng đường ấy chỉ còn là 1/3. Từ ấy, Ajax và Hà Lan tiến hành pressing ngay trên sân đối phương.

Từ ý tưởng này, Cruyff đưa ra một phát kiến mới: thủ môn quét (sweeper-keeper), vị trí mà ngày nay đã được Manuel Neuer đưa lên đỉnh cao. Trước thềm World Cup 1974, Cruyff thuyết phục Michels hãy dùng thủ môn Jan Jongbloed bởi vì anh ta có khả năng dùng chân tốt hơn và thích dâng cao. Nếu thủ môn lao ra khỏi vòng cấm, xem như Hà Lan đã thu hẹp diện tích mặt sân xuống chỉ còn lại 2/3. Làm chủ không gian và thời gian là yếu tố quyết định thắng lợi.

Cruyff có nhiều môn đồ, nhiều người tôn sùng nhưng cũng không ít kẻ thù. Ông bị chỉ trích là quá cầu toàn, quá bảo thủ, không ham thích nói chuyện phòng ngự và là một người khó gần. Cruyff thích tranh luận, thậm chí cãi nhau gay gắt. Nhưng có lẽ những ai cãi với Cruyff đều không hiểu ông.

Chuyện gì xảy ra nếu như mọi người đều hiểu? Hãy nhìn vài ví dụ. Đội tuyển Đức sau thất bại điêu tàn ở Euro 2004 đã quyết tâm làm lại. Những quốc gia đang khủng hoảng như Bỉ và New Zealand cũng tái cơ cấu lại nền bóng đá của họ. Kết quả, Đức vô địch thế giới, Bỉ trở lại các giải đấu lớn và đang có một thế hệ "dream team", trong khi New Zealand cũng đã hiện diện ở một vòng chung kết World Cup.

Các đội bóng Anh giờ cũng đang đi theo con đường của Cruyff, khai tử thứ bóng đá dài truyền thống. Arsene Wenger ở Arsenal, Van Gaal ở Man United, Guus Hiddink ở Chelsea, Roberto Martinez ở Everton và Juergen Klopp ở Liverpool  đều là những người ít nhiều chịu ảnh hưởng của Cruyff. Mùa tới, Pep Guardiola sẽ mang tiki-taka đến Man City.

Gần đây, Luis Suarez và Lionel Messi có tái hiện lại pha đá phạt đền... gián tiếp mà Cruyff và Jesper Olsen từng thực hiện hồi tháng 12/1982, trận Ajax đá với Helmond Sport. Đấy là một cách là hai siêu sao Nam Mỹ này tưởng nhớ đến Cruyff, vị thánh của xứ Catalan, đang nằm trên giường bệnh. Thông qua một người bạn, Cruyff cho biết ông rất vui vì nghĩa cử của hai người hậu bối. Mà thực ra, Barca vẫn đang vinh danh Cruyff hàng tuần với triết lý bóng đá mà ông đã gầy dựng xuyên suốt. Khi Barca lựa chọn một HLV, họ chỉ chọn một người mang tinh thần của Cruyff.

Tinh thần ấy sẽ còn mãi, cho dù Cruyff không còn nữa. Vì con người luôn mãi đi tìm cái chân, thiện, mỹ.

Hoài Thương, VNEO, 3-2016

Bình luận

 

Trong tình yêu và trong văn chương, ta không hiểu lựa chọn của người khác

Mark Twain