GIÁO ĐƯỜNG CỦA CRUYFF 2

 

...

Cruyff (giữa) là người trực tiếp làm thay đổi vận mệnh của Ajax, đưa CLB này lên hàng ngũ tinh tú của bóng đá Hà Lan và châu Âu

Có một đoạn phim tài liệu quý về Cruyff được quay trong thập niên 1950. Trong đoạn phim trắng đen ấy, ta thấy một cậu bé gầy gò đang chơi bóng trên đường phố ngoại ô Amsterdam. Nom cậu chỉ to ngang quả bóng, thoạt đầu cậu tự tâng bóng một mình, lúc sau xuất hiện thêm bạn chơi cùng, cậu "xâu kim" người bạn này và chạy về hướng camera. Cruyff đã xây dựng tình yêu với bóng đá trên đường phố như thế.

"Lúc nào bọn tôi cũng thấy Johan cạnh quả bóng," một người bạn thuở nhỏ của Cruyff nhớ lại. "Nếu không thì cũng thấy quả bóng cạnh Johan".

Người quay đoạn phim ấy chính là Manus Cruyff, bố của Johan. Ông có một tiệm bán hoa quả nhỏ để nuôi sống gia đình. Nhưng chỉ vài năm sau, ông đột ngột qua đời vì trụy tim. Mẹ của Cruyff vì sinh kế về xin vào sân vận động của Ajax làm lao công. Johan thường xuyên theo mẹ đến đó, lâu dần cậu bé quen biết mọi người trong CLB. Sáu tháng trước sinh nhật thứ 17, Cruyff được HLV Vic Buckingham cho đá trận đầu tiên trong màu áo Ajax.

Ngày ấy, Ajax cũng là một CLB mạnh ở Hà Lan rồi, nhưng bóng đá Hà Lan khi ấy chỉ thuộc dạng trung bình trên thế giới. Vậy mà trong một thập kỷ, cả thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ từ Ajax cho đến đội tuyển Hà Lan. Cruyff chính là người tạo ra bước thay đổi thần kỳ ấy. Với HLV Rinus Michels huyền thoại bên ngoài sân và tài nghệ của Cruyff trên sân, Ajax sáng tạo ra thứ bóng đá tân kỳ mang tên totaalvoetbal (chúng ta vẫn quen dịch là "bóng đá tổng lực"). Và từ ấy, totaalvoetbal trở thành kim chỉ nam cho rất nhiều chiến lược gia sau này.

Ajax vô địch Cúp C1 liên tiếp từ 1971 đến 1973. Tại World Cup 1974, đội tuyển Hà Lan, hãy còn vô danh trước đó, đi một lèo vào trận chung kết và chỉ thua đội tuyển Tây Đức. Lẽ ra, họ đã có thể vô địch nếu không quá ngạo mạn. Ngay phút thứ 2, khi người Đức còn chưa chạm vào bóng, Hà Lan đã mở tỷ số từ chấm phạt đền, sau một pha phối hợp gồm 17 đường chuyền và một cú tăng tốc xộc thẳng vào vòng cấm đúng kiểu Cruyff.

Suốt 20 phút sau đó, thay vì tìm bàn thứ hai, Hà Lan lại giữ bóng, phối hợp như muốn trêu ngươi đối thủ. Điều đó khiến người Đức nổi giận. Và khi đã chọc giận người Đức, Hà Lan đã đánh thức một con mãnh thú. Đức ghi liền hai bàn và dù Hà Lan vùng vẫy thế nào, họ cũng không thể cứu chuộc sai lầm.

Để thua trận chung kết World Cup năm ấy cũng là nỗi thất vọng lớn nhất trong sự nghiệp thi đấu của Cruyff, dù ông đã đúng khi tuyên bố: "Đức vô địch, nhưng Hà Lan mới là đội được yêu mến nhất". Câu nói này, dù mang một chút hơi hướm A.Q, vài chục năm sau đã được lịch sử công nhận là đúng. Bởi vì người ta vẫn nhắc về Hà Lan năm ấy với tất cả sự ngưỡng mộ lẫn tiếc nuối. "Có huy chương nào đẹp hơn việc ta trung thành với phong cách thi đấu của mình đâu", Cruyff tiếp tục nói thế để an ủi các hậu bối sau khi Hà Lan vượt qua Argentina, nhưng để thua Brazil sau loạt sút luân lưu ở World Cup 1998.

Cruyff có niềm tin bất diệt vào bóng đá đẹp. Điều này giúp ông có một chỗ đứng riêng biệt, chính xác hơn là cao hơn những HLV vĩ đại khác, những người chọn con đường thực dụng để thành công. Trong thập niên 1960, khi thứ bóng đá khoa học mang tên catenaccio của người Italy trở thành mốt, Cruyff và các cộng sự của mình vẫn trung thành đi theo con đường khó khăn hơn.

Ngày nay, Jose Mourinho được xem là đỉnh cao của trường phái thực dụng, cho dù ông "tốt nghiệp" trong môi trường của Cruyff, tức Barcelona những năm 1990. Mourinho có trí thông minh tuyệt vời và ông dùng trí thông minh ấy để vạch ra những điểm yếu của "bóng đá kiểu Cruyff". Nhưng dù có thêm bao nhiêu Mourinho xuất hiện đi nữa, Cruyff cũng chưa bao giờ ngả lòng. Với ông, chiến thắng và đá đẹp phải luôn song hành. Ông nói bóng đá đầu tiên và trên hết phải xuất phát từ niềm vui.

"Các CĐV bỏ tiền bạc và thời gian đến sân, sao chúng ta lại tra tấn họ? Khán giả nuôi sống bóng đá, sao ta phụ lòng họ?", Cruyff nói.

Với những khán giả trẻ chưa được xem Cruyff thi đấu, đoạn clip mang tên "Johan Cruijff Is Art" trên Youtube thật sự là một tài sản quý báu. Bạn hãy lên đấy xem để thấy Cruyff thật sự đã biến bóng đá lên thành một nghệ thuật như thế nào. Cây bút người Anh David Miller gọi Cruyff là một "Pythagoras của bóng đá", cây bút Hà Lan Nico Scheepmaker thì bảo Cruyff "thuận cả bốn chân". Nhà biên đạo múa lừng danh người Nga Rudi Van Dantzig thì bảo Cruyff khiêu vũ còn đẹp hơn cả vũ công huyền thoại Rudolf Nureyev.

Một trong những tuyệt chiêu của Cruyff là đột ngột dừng lại khi đang đi bóng rồi lại đột ngột tăng tốc. Ông cứ thế mà diễn đi diễn lại suốt sự nghiệp, vậy mà rất ít hậu vệ có thể ngăn cản. Một kỹ thuật khác mang đặc sản của Cruyff là động tác giả. Ông sẽ giả vờ tạt bóng hoặc sút rồi bẻ ngoặt bóng sang hướng khác để thoát truy cản. Động tác này hàng triệu cầu thủ bóng đá, từ chuyên nghiệp đến nghiệp dư, đều từng làm, nhưng vào chân Cruyff lại có nét quyến rũ lạ thường. Như Kiều Phong chỉ với một pho Giáng Long Thập Bát Chưởng là tung hoành giang hồ không có đối thủ.

Cruyff không thật sự thích đánh đầu, dù ông vẫn thực hiện những cú đánh đầu rất chuẩn khi cần thiết. Ông thích dùng chân để xử lý bóng và dùng đầu để suy nghĩ hơn. Sau này, có một cầu thủ cũng chia sẻ quan điểm này với Cruyff là Andrea Pirlo. Thiên tài ngái ngủ người Italy nói: "Tôi dùng đầu để đá bóng, chân chỉ là công cụ".

Các cule lớn tuổi của Barca sẽ không bao giờ quên được pha ghi bàn không tưởng của Cruyff vào lưới Atletico Madrid. Nhận một quả tạt hơi lố từ cánh phải, Cruyff nhảy lên như một vận động viên thể dục dụng cụ, nhưng ông không lao người đánh đầu mà dùng má ngoài chân phải xỉa bóng vào góc hẹp.

Càng về giai đoạn sau của sự nghiệp cầu thủ, Cruyff càng dành nhiều thời gian hơn để hò hét với các đồng đội, chỉ bảo họ phải di chuyển vào chỗ nào, phải lập tức lui về phòng ngự khi mất bóng ra sao. Tức là Cruyff không chỉ thi đấu đơn thuần, ông còn muốn kiểm soát cục diện của trận đấu. Trông ông như một cao thủ đánh cờ, xử lý một pha bóng, nhưng trong đầu đã vạch ra ba, bốn tình huống tiếp theo. "Đừng chạy nhiều quá, bóng đá không phải là trò chơi cơ bắp," Cruyff vẫn thường nói.

Trên thực tế, Cruyff rất ít khi chạy nhanh, nhưng ông chạy bền, chạy liên tục. Khi cả một đội hình đều chạy, cự ly đội hình đạt đến trạng thái lý tưởng, một đội bóng luôn có đông quân số hơn đối thủ trong mọi tình huống. Vậy có phải Cruyff là cha đẻ của totaalvoetbal? Thật ra đấy là phát kiến của Rinus Michels, người lên thay Buckingham làm HLV Ajax hồi 1965. Chính Michels là người đã truyền động lực và sự chuyên nghiệp đến một đội bóng mà trước đó vẫn chỉ chơi như những kẻ nghiệp dư. Và cũng chính Michels là người đã đề ra phát kiến chiến thuật được xem là vĩ đại nhất cho đến nay.

Nhưng nếu không có Cruyff, phát kiến ấy vẫn mãi mãi chỉ là lý thuyết trên giấy. Không có Cruyff tiếp tục bồi đắp và phát triển, totaalvoetbal cũng sẽ bị khai tử vào đầu thập niên 1980, nơi những cầu thủ của thế hệ "tổng lực" đều đã giải nghệ và thứ bóng đá phòng ngự đổ bể tông đang thống trị thế giới, kể cả ở Hà Lan.

Cruyff không chấp nhận nổi catenaccio và lao tâm khổ từ tìm cách phá vỡ nó. Ông mày mò tìm cách nâng totaalvoetbal lên một tầm cao mới. Ông tái cơ cấu lại hệ thống đào tạo trẻ ở Ajax, giáo dục họ cách chơi bóng kiểu totaalvoetbal từ khi họ còn bé. Sau này, ông làm điều tương tự với một quy mô lớn hơn ở Barcelona khi tái cơ cấu lại La Masia. Và vì bóng đá là trò chơi của trí óc chứ không phải cơ bắp, ta dễ dàng nhận ra những thành viên của Ajax và Barca không nhất thiết phải cao to. Nhưng họ chơi rất đồng đội và cực kỳ hiểu nhau. Người ta nói cứ bỏ 100 đứa trẻ vào công viên, Cruyff sẽ chỉ ra đâu là đứa trẻ do Barca đào tạo. Những đứa ấy... chạy chậm rì.

Hoài Thương, VNEO, 3-2016

Bình luận

 

Trong tình yêu và trong văn chương, ta không hiểu lựa chọn của người khác

Mark Twain