ĐỪNG TRÔNG CHỜ VÀO “MINH TRIẾT DÂN GIAN”

 

NBM: Quản lý nhà nước đâu rồi!

...

Lễ cướp phết

Rõ ràng những đám đông cướp phết, tranh lộc hỗn loạn mà báo chí phản ánh thời gian này chưa tạo ra án mạng nhưng nhìn vào đó, những người đứng ngoài “truyền thống lễ hội” nói trên có thể đưa ra những lo ngại rất có cơ sở rằng, có thể một ngày nào đó, sự việc không chỉ dừng lại ở những trò vui hội hè.

Cái nhìn lý tính, khách quan và thấp thoáng phía sau là những băn khoăn đó, thật ra đã có từ lâu ở những trí thức phương Tây khi nghiên cứu về vấn đề cộng đồng làng xã tại Việt Nam. Từ chỗ cắt nghĩa tâm thế “Miếng thịt làng sàng thịt mua” vốn được sinh ra trong một cộng đồng làng xã nông nghiệp Việt Nam, nhiều học giả phương Tây đã chỉ ra ý niệm về sự tranh chấp quyết liệt để sở hữu công sản, khẳng định chỗ đứng, vị trí của các cá nhân trong cộng đồng khép kín.

Lễ hội miền Bắc là một hiện tượng văn hóa sinh ra từ phạm vi làng, phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa và thực hành tín ngưỡng, tâm linh của cư dân làng, nên biểu hiện rõ nhất tâm thế trên.

Từ những khảo sát về đời sống văn minh, văn hóa làng xã để phác thảo nên chân dung vật chất lẫn tinh thần của người nông dân châu thổ Bắc Kỳ truyền thống, nhà nghiên cứu Pierre Gourou chỉ ra “động lực” của các lễ hội làng qua công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, nghiên cứu địa lý nhân văn (NXB Trẻ, Viện Viễn Đông Bác Cổ, Tạp chí Xưa và Nay, 2015). Pierre Gourou viết: “Ngoài những hội hè cúng thành hoàng, còn phải liệt vào lễ hội công cộng nhiều lễ hội trong năm để cầu thần xua đuổi bệnh tật đem lại bình an cho dân gọi là lễ cầu yên hay kỳ phúc, để cúng cơm mới vào tháng 10 gọi là lễ thường tân, để cầu mưa gọi là cầu đảo, để xua đuổi sâu bệnh gọi là tống trùng, để mừng sinh nhật cho những người đã cúng tiền cho xã để được mừng thọ hàng năm; những dịp hội họp và ăn uống có khi một người trong làng được bổ nhiệm chức sự, được thăng quan tiến chức, khi bầu người cai đám mới (phụ trách việc thành hoàng). Không một chức sự nào được làng công nhận nếu không có khao vọng linh đình”.

Pierre Gourou cắt nghĩa rằng, nằm sâu bên dưới lễ hội là một vô thức tập thể đặc thù “tính làng xã Việt Nam”:

“Dưới biểu hiện tẻ nhạt và nghèo nàn, cuộc sống trong làng rất sôi động và phong phú; nó đem đến cho người dân quê lợi ích và sự đam mê. Những hội hè của nhóm hay của hội nhiều vô kể vì không nhóm này hay hội nào mà lại không có lễ hội riêng, kèm theo cỗ bàn ăn uống: hội của giáp, của thôn, của tư văn... Những người già 60 tuổi phải làm cỗ mời những người già khác, các bà già cũng có cỗ bàn riêng (...). Nói chung, người nông dân tìm thấy trong đời sống làng mạc những lý do quan trọng vì lợi ích của mình; tham vọng thủ đoạn, sở thích quyền lực, tình cảm tôn giáo, cả thói tham ăn tục uống đều có thể thỏa mãn...”.

Trong khi đó, cũng dùng lý tính phê phán văn hóa, nhà truyền giáo, nhà khoa học nhân văn Léopold Cadière đã lý giải sâu hơn về căn tính làng xã Việt Nam ở sự thiếu vắng tư tưởng. Ông viết: “Không có thực sự một nền triết học Việt Nam, người Việt, từ một thời xa xưa nào đó khó minh định, đã thu nhập những cơ sở triết học của người Trung Hoa, cùng với tổng thể nền văn minh của họ. Nhưng cơ sở triết học ấy được giữ như nguyên, không đượm thêm màu sắc chuyên biệt nào, và cũng chẳng có chút biến đổi mảy may” và “Không có một nền triết học bác học Việt mà chỉ có một minh triết dân gian” (Léopold Cadière, Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo Người Việt, Đỗ Trinh Huệ dịch, NXB Thuận Hóa).

“Tâm thức tôn giáo Việt Nam” là thứ được Léopold Cadière ví “chằng chịt như cây rừng Trường Sơn”. Hẳn khi đưa ra diễn ngôn đó, Cadière hàm nghĩa, tín ngưỡng của người Việt Nam nặng tính tự nhiên chủ nghĩa, cảm tính dân gian, tự phát vô pháp, không có khả năng tự phê phán để ổn định, không có sự tự kiểm soát trong những điều kiện kinh tế, chính trị, bối cảnh mới và sẽ khó có công cụ nào thực sự hữu hiệu để kiểm soát các vấn đề tâm linh.

Một trong những nguyên do cộng hưởng, làm cho đời sống tín ngưỡng thêm “rậm rì vô hướng” và khó kiểm soát, đó chính là điều kiện lịch sử chiến tranh kéo theo hoàn cảnh kinh tế. Từ đó, có thể hiểu, thực hành tâm linh phóng chiếu dục năng của đời sống trần tục, là nơi ký thác giấc mơ sung túc, thành công trong xã hội để trỗi vượt lên cộng đồng trong một xã hội khốn khó. “Việc đặt nặng vấn đề vật chất ở người Việt là do những điều kiện kinh tế. Phần đông người Việt nghèo, chỉ sống được qua ngày. Ăn tối, lo mai. Chính cái đói đã ám ảnh họ và vì thế cái ăn đã trở thành quá quan trọng” (sách đã dẫn).

Hẳn nhiên, cái nhìn của những trí thức, học giả phương Tây đôi khi khó tránh khỏi yếu tố “Đông phương luận”, tức, có sẵn một “hệ thống định kiến” về căn tính phương Đông dưới nhãn quan phương Tây - theo cách nói của học giả Edward Wadie Said. Song, gạt qua những điều đó, sẽ thấy có rất nhiều thứ từ cách nhìn sòng phẳng của những “kẻ xa lạ” đáng để ta suy ngẫm, phản tư, tự soi thấu vào những hiện tượng văn hóa, để tìm cách thay đổi thực tại - mà nền tảng của mọi thay đổi đó chính là sự thay đổi cách tư duy và hành xử của cá nhân trong cuộc sống cộng đồng.

Cấu trúc làng xã cổ truyền bị phá vỡ, những lễ hội cổ truyền bung ra đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của một đại chúng rộng rãi giàu thực dụng nhưng thiếu am hiểu và tuân thủ các quy ước văn hóa. Hương ước làng xã không còn đủ khả năng kiểm soát. “Minh triết dân gian” trở thành thứ sương khói mơ hồ để che đậy quá nhiều những đổ vỡ và nhiễu loạn nội tại, hơn thế, nó là một thứ mỹ từ sáo rỗng để tô hồng thực tại một cách hài hước. Trong khi xã hội cũng chưa đưa ra một hệ thống chuẩn mực luân lý, đạo đức thuyết phục để tạo ra sự chia sẻ lớn trong cộng đồng xã hội. Sự biến thể, biến tướng từ phía thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội dân gian trong dân liên tục xảy ra theo những khuynh hướng khó lường.

Nguyễn Vĩnh Nguyên, TBKTSG 25-2-2016

Bình luận