CẢM HỨNG TOÁN HỌC TỪ HÀ NỘI

 

...

Hơn nghìn năm qua, từ khi Hoàng đế Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, “nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời” không ngừng truyền cảm hứng cho bao bậc thánh đế minh vương, bao vị tướng lĩnh kiên trung thao lược, bao nhà thơ lỗi lạc tài ba.

Vẫn nuối tiếc một điều… 
Thượng tướng Trần Quang Khải viết kiệt tác Tụng giá hoàn kinh sư sau khi chiến thắng Nguyên - Mông, năm 1285, phò xa giá vua Trần trở lại kinh thành Thăng Long, với lời khuyên vang vọng sử xanh: “Thái bình tu trí lực/ Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy muôn thu).

Thi hào Nguyễn Trãi ghi lại cảnh ngộ “triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải” trong một bài thơ chữ Nôm cách đây hơn 600 năm: “Góc thành nam lều một gian/ No nước uống, thiếu cơm ăn/ Con đòi trốn dường ai quyến/ Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…”. Rồi thi hào Nguyễn Du, năm 1813, trên đường đi sứ Yên Kinh (Trung Quốc), ghé qua Thăng Long, ngậm ngùi trước cảnh bể dâu: “Tản Lĩnh, Lô Giang tuế tuế đồng/ Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long/ Thiên niên cự thất thành quan đạo/ Nhất phiến tân thành một cố cung…” (Vẫn nguyên núi Tản, dòng Lô/ Thăng Long gặp lại, khách thơ bạc đầu/ Đường quen lầu cũ giờ đâu?/ Thành xây một dải chìm sâu bệ rồng…).

Và còn biết bao tác phẩm tài hoa, đầy xúc cảm khác nữa về Thăng Long - Hà Nội. Mảnh đất Rồng Bay luôn tạo nguồn cảm hứng cho bao tài năng văn học - nghệ thuật.

Tuy nhiên, đối với riêng tôi, một cây bút chuyên viết về khoa học, thì vẫn cứ nuối tiếc một điều: Trong bấy nhiêu thế kỷ ấy, do “bế quan tỏa cảng”, nước ta trở nên quá trì trệ, lạc hậu về mặt khoa học tự nhiên và công nghệ!

Thăng Long thiếu vắng những thiên huyền thoại về các nhà toán học, nhà vật lý, nhà sinh học ngang tầm Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Giordano Bruno hay Isaac Newton, Charles Darwin…; dù rằng vẫn thấp thoáng bóng dáng vài nhà toán học mà ta trân trọng như Vũ Hữu (1437-1530), tác giả cuốn Lập thành toán pháp hay Lương Thế Vinh (1441-1496), tác giả cuốn Đại thành toán pháp, tuy nội dung chỉ dừng lại ở toán sơ cấp.

Nhìn chung, nền văn hóa cổ truyền nước ta chưa thể coi là hoàn chỉnh, bởi lẽ hầu như thiếu hẳn mảng khoa học tự nhiên và công nghệ - những bộ phận vô cùng quan trọng cấu thành nền văn hóa hiện đại.

Trước Cách mạng tháng Tám, lác đác mới xuất hiện mấy chục công trình của Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Ngữ… trên các tạp chí y học Pháp. Mấy năm sau, mới có thêm những nghiên cứu về hóa sinh của Bửu Hội, về toán học của Lê Văn Thiêm, Phạm Tỉnh Quát, về triết học của Trần Đức Thảo công bố ở Paris.

Các công trình nghiên cứu của giới khoa học Việt Nam chỉ xuất hiện nhiều sau ngày Hà Nội giải phóng, khi hàng nghìn nghiên cứu sinh nước ta được cử sang các nước bạn viết luận án tiến sĩ. Tuy nhiên, những công trình ấy hầu hết đều được viết ở nước bạn, chứ không phải ngay trên đất nước Việt Nam ta, không bắt nguồn từ những ý tưởng khoa học độc đáo của người Việt Nam ta.

Kỳ vọng, ở thế kỷ XXI, nước ta sẽ ngày càng có nhiều nhà khoa học “đứng chân” ngay tại Việt Nam, tại Hà Nội, mà vẫn sáng tạo nên những công trình đạt đỉnh cao thế giới. Và Mảnh đất Rồng Bay truyền cảm hứng không chỉ cho các văn nghệ sĩ, mà còn cho các nhà khoa học…

Tất nhiên, với đặc thù của khoa học tự nhiên là khám phá chân lý khách quan, chứ không phải biểu đạt cảm xúc chủ quan của chủ thể sáng tạo, cho nên, trong một công trình toán học hay vật lý, không thể có những mệnh đề miêu tả nỗi buồn man mác của chính tác giả như thơ Nguyễn Du: “Tản lĩnh, Lô giang tuế tuế đồng/ Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long…”.

Đối với các nhà khoa học tự nhiên và công nghệ, Thăng Long - Hà Nội truyền cảm hứng trước hết là vun đắp ở họ tình yêu tha thiết đất nước mình, nhân dân mình, như một thứ men rượu say nồng làm phấn chấn tâm hồn, thăng hoa trí tuệ, để phát minh, sáng chế ra cái mới, góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại…

Thành tựu toán học từ Hà Nội được giới bác học quốc tế thừa nhận:
Sau khi dự Hội nghị Những đường biên trong vật lý học tại Collège de France (Học viện Pháp) ở Paris, tôi một mình đáp xe lửa sang Ý, thăm Trung tâm quốc tế vật lý lý thuyết Abdus Salam (ICTP) và Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba (TWAS) tại thành phố Trieste, bên bờ biển Adriatic, giáp Croatia.

Tôi đến thăm ICTP cũng như TWAS vì muốn được tận mắt chứng kiến hoạt động của các bạn Việt Nam mà tôi thân quen ở hai cơ quan khoa học lớn ấy. Mỗi năm nơi đây đón khoảng 4.000 nhà khoa học đến làm việc ngắn hạn hoặc dài hạn, trong đó có nhiều nhà vật lý và toán học Việt Nam. Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày thành lập ICTP (vào năm 1964), Trieste đã đón hơn 100.000 nhà khoa học đến từ 170 nước: 2/3 từ các nước đang phát triển ở phương nam, 1/3 từ các nước phát triển cao ở phương bắc.

Abdus Salam, nhà vật lý Pakistan được tặng Giải thưởng Nobel năm 1979, là Giám đốc đầu tiên của ICTP và cũng là Chủ tịch đầu tiên của TWAS. Ông muốn thông qua mối giao lưu bắc - nam để giúp các nhà khoa học phương nam dần tiếp cận trình độ phương bắc.
Tôi được TWAS tặng một cuốn sách tiếng Anh, nhan đề TWAS - Members Elected in 2000 (Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba - Những viện sĩ được bầu năm 2000). Sách dành hẳn một trang viết về nhà toán học Việt Nam Ngô Việt Trung:

“Ngô Việt Trung đã đạt được những kết quả đáng chú ý về nghiên cứu và tổ chức. Ông công bố những công trình đáng khâm phục, đầy ý nghĩa về những chủ đề cốt lõi của đại số giao hoán hiện đại, một trong những công cụ chính để nghiên cứu hình học các vật được xác định bởi các phương trình đa thức. Trong nghiên cứu toàn cục của các vật hình học hay nghiên cứu các điểm kỳ dị, một trong những khó khăn là cấu trúc đại số trở nên cực kỳ phức tạp. Một thành quả của ông là tìm ra phương pháp đại số thích đáng để nghiên cứu những biến dạng của các vật hình học. Những đóng góp của ông khiến ông trở thành một trong những nhà đại số học quan trọng nhất trên thế giới (one of the world’s leading algebraists)”.

Cuốn sách tiếng Anh của TWAS ghi rõ: Ngô Việt Trung sinh tại Điện Bàn, Quảng Nam ngày 8-5-1951, đỗ thạc sĩ năm 1974, tiến sĩ năm 1978, tiến sĩ habil (tiến sĩ khoa học) năm 1983 tại Đại học Halle, Đức. Trong những năm 1983-1990 (32 tuổi), ông là phó giáo sư Viện Toán học Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; từ năm 1991 (40 tuổi), là giáo sư, trưởng phòng đại số và lý thuyết số Viện Toán học. Ông là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Nagoya, Nhật Bản, 1982; Đại học Halle, Đức, 1983; Đại học Genoa, Ý, 1985, 1988; Viện Max-Planck Toán học, Bonn, Đức, 1987, 1993, 1997; Đại học Essen, Đức, 1990, 1995, 2000; Đại học Cologne, Đức, 1990; Đại học Thủ đô Tokyo, Nhật Bản, 1999…
Lĩnh vực nghiên cứu của ông rất rộng, bao gồm: đại số giao hoán, bất biến của vành địa phương và phân bậc, cơ sở Glöbner, đối đồng điều địa phương, hình học đại số, đa tạp định thức, chỉ số chính quy Cartelnuovo-Mumford...

Những dòng “liệt kê khô khan” trong cuốn sách nói trên của TWAS là sự vinh danh rất chính xác và đầy trân trọng đối với một nhà toán học Việt Nam lỗi lạc. Địa chỉ Ngô Việt Trung, Institute of Mathematics, National Center of Natural Sciences and Technology, Hanoi, Vietnam trở thành nổi tiếng.

Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba được thành lập ngày 5-7-1985 tại Trieste. Ban đầu, các viện sĩ của viện là những người có gốc gác từ các nước đang phát triển, nhưng đã được tặng Giải thưởng Nobel, Huy chương Fields, hoặc đã trở thành viện sĩ hàn lâm ở các nước phát triển. Về sau, các viện sĩ và viện sĩ thông tấn được bầu là công dân các nước đang phát triển đã đạt các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất (have attained the highest international standards). Quy trình bầu viện sĩ và viện sĩ thông tấn được quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm minh.

Ngô Việt Trung được bầu làm viện sĩ TWAS năm 2000, khi ông 49 tuổi. Ông là viện sĩ thứ 7 người Việt Nam: Nguyễn Văn Hiệu (vật lý lý thuyết), Đào Vọng Đức (vật lý lý thuyết), Nguyễn Huy Phan (y học, đã mất), Vũ Tuyên Hoàng (nông hoc, đã mất), Lê Dũng Tráng (toán học), Nguyễn Văn Đạo (cơ học, đã mất), Ngô Việt Trung (toán học).

Sau Ngô Việt Trung, còn có thêm 5 nhà toán học Việt Nam nữa trở thành viện sĩ TWAS: Hà Huy Khoái (toán học), Đào Trọng Thi (toán học), Lê Tuấn Hoa (toán học), Phan Quốc Khánh (toán học) và Hoàng Xuân Phú (toán học).

Xem qua bản danh sách ấy, ta thấy rõ: Các nhà toán học chiếm tuyệt đại đa số. Ngay cả những nhà vật lý lý thuyết như Nguyễn Văn Hiệu, Đào Vọng Đức thì cũng có thể coi là nhà toán học trong vật lý; hay nhà cơ học Nguyễn Văn Đạo là nhà toán học trong cơ học.
Toán học là ngành khoa học cơ bản số một của Việt Nam ta mà thành tựu được giới bác học quốc tế thừa nhận.

Lẽ nào dám phụ lòng đất nước đã cưu mang? 
Mới ba tuổi, cậu bé Trung mắc chứng bệnh bại liệt. Mẹ cậu là y tá quân đội, nên cấp cứu kịp thời, giữ lại được mạng sống, nhưng nửa người bên trái của cậu bị liệt hoàn toàn. Về sau, nhờ tập luyện mà hồi phục dần, nhưng cái chân trái vẫn mang tật suốt đời.

Là con trai nhà ngoại giao nổi tiếng Ngô Điền, thời trẻ, Ngô Việt Trung theo học Trường Việt - Đức, Hà Nội. Năm 1969, anh giành giải nhất cuộc thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc. Anh cũng đỗ đầu cuộc thi kiểm tra kiến thức toán dành cho các học sinh đi du học ở nước ngoài mà người ra đề là Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu. Năm ấy, Việt Nam chưa dự thi Olympic Toán quốc tế, chứ nếu dự, thì - theo tôi nghĩ - anh Trung có thể đoạt huy chương vàng. Năng khiếu toán của anh được bác Bửu chú ý ngay từ dạo ấy.

Năm 1969, anh được gọi đến tập trung để chuẩn bị đi du học. Anh sẽ sang CHDC Đức. Lúc đó, anh nghĩ sở dĩ mình được đi du học là do mình học giỏi. Mãi sau này anh mới biết: Theo thỏa thuận nước ta ký với các nước bạn thì anh không đủ tiêu chuẩn du học, vì bị liệt một chân, phải chống nạng đến trường! Nhưng Bộ trưởng Bửu vẫn gọi anh đến nơi tập trung. Lúc đầu, bác Bửu xin cho anh sang học ở Liên Xô, nhưng bạn từ chối. Vừa lúc đó, một đoàn cán bộ Bộ Đại học CHDC Đức đến Hà Nội. Bác Bửu nói chuyện thẳng với ông thứ trưởng, trưởng đoàn, về trường hợp anh – một tài năng trẻ, về sau, rất có thể lập nên nghiệp lớn! Thế là ông này vui vẻ nhận anh sang Đức. Lúc đầu, anh được phân công theo học công nghệ thông tin. Nhưng, sau một năm học tiếng ở Đức, anh và hai bạn nữa được cử vào học Tổng hợp Toán. Té ra bác Bửu vẫn tiếp tục đàm phán với bạn, để anh được học toán, bởi vì bác biết chắc anh rất có triển vọng về môn này. Người xưa đã nói: Con thiên lý mã, nếu không được mắt xanh của một người sáng suốt phát hiện và chăm sóc, thì rất có thể vẫn mãi mãi chỉ là một chú ngựa xoàng mà thôi! Trong thời gian học ở Đức, theo đề nghị của bác Bửu, anh được các bác sĩ phẫu thuật nước bạn chữa khỏi một phần di chứng bại liệt.

Một ngày trong năm 1972, Trung và hai bạn người Việt cùng trường bỗng nhận được điện thoại từ Sứ quán ta, nhắn ba người đến gặp ngay bác Bửu tại căn phòng bác lưu trú ở Hotel Stadt Berlin, khách sạn lớn nhất Berlin thời ấy. Đầu tiên, bác hỏi các bạn đã học được những gì; rồi sau đó, bác kể kinh nghiệm bác học bên Anh. Cuộc “đàm đạo” dần chuyển sang chuyện tiếu lâm từ lúc nào không biết! Và ba bạn trẻ cứ há hốc mồm ra mà cười, quên mất rằng người kể chuyện là một vị… bộ trưởng! Lúc bác Bửu định đi ngủ thì trời đã khuya. Bác bảo ba bạn trẻ cùng ngủ ngay trong phòng với bác, trải nệm xuống sàn. Trước khi ngủ, bác còn dạy cách bấm huyệt chữa mỏi lưng, nhức đầu. Một kỷ niệm không thể nào quên!…

- Tôi là người chịu ơn bác Bửu nhiều lắm! Nếu không được bác đặc cách cử đi học nước ngoài, thì chưa chắc tôi đã theo nghiệp toán! - Sau này, GS Ngô Việt Trung kể lại - Đất nước ta ngày ấy có một nhà lãnh đạo khoa học và giáo dục tài đức vẹn toàn đến thế, lại vô cùng giản dị, chan hòa, lẽ nào tôi dám phụ lòng, không trở về nước?

Trở về Hà Nội như “trở lại trái tim mình”:
Bằng Việt, một nhà thơ đương đại, viết trong bài Trở lại trái tim mình mấy vần thơ tinh tế và lạc quan về Hà Nội, nói lên tâm trạng của nhiều thanh niên trí thức thời chống Mỹ, cứu nước:

Tôi trở lại những lối mòn quá khứ


Có tâm tình ta mắc nợ cha ông 
Nhịp chày sương hay tiếng trống thu không 
Nét son đượm trên vòm cong mái cổ 

Dù quân thù bắn phá cuồng điên 
Tim ta đó vẫn nguyên lành Hà Nội 
Ôi trái tim nóng hổi 
Tôi về đây là thêm sức đi xa

Ngô Việt Trung trở về Hà Nội, với tâm thế “trở lại trái tim mình”, như một lẽ đương nhiên, “là thêm sức để đi xa”. Nếu người nào học xong, thành tài cũng ở lại nước ngoài, rồi tự coi mình là “công dân thế giới”, thì lấy ai xây đắp nền khoa học nước ta?

Anh nhận việc tại Viện Toán học. Biết tin ấy, bác Bửu liền mời anh tới gặp tại nhà riêng ở đường Hoàng Diệu, sát kề nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vì bác Bửu từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời chống Pháp. Anh trình bày nội dung bản luận án tiến sĩ để bác nghe, và không ngờ bác lại hiểu rất nhiều về đại số giao hoán, chuyên ngành anh đang nghiên cứu.

Năm 1980, bác Bửu đưa cho anh mượn hai cuốn vở dày, ghi chép gần như toàn bộ cuốn sách toán tiếng Pháp Algèbre locale - multiplicités (Đại số địa phương - số bội) của J.-P. Serre, một cuốn sách kinh điển về đại số giao hoán. Trang đầu của một trong hai cuốn vở đó có ghi: “Bửu, Đồ Sơn, 1973”. Như vậy là bác Bửu đã đọc rất kỹ cuốn sách của Serre ngay từ năm 1973, lúc anh Trung mới tập tễnh vào nghề bên Đức. 
GS Tạ Quang Bửu không phải là một vị bộ trưởng đầy quyền uy, mà là người thầy, người bạn vong niên gần gũi, “tri âm, tri kỷ” của giới toán học Việt Nam.

“Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền, cháu thảo”:
GS Ngô Việt Trung được cử làm Tổng biên tập tạp chí Acta Mathematica Vietnamica 16 năm liền. Ông đã công bố 88 công trình trên các tạp chí quốc tế có uy tín, 74 công trình được Viện Thông tin khoa học (Institute for Scientific Information, ISI) ở Mỹ ghi nhận. Từ năm 2000 đến nay, công trình của Ngô Việt Trung được trích dẫn trong 600 bài báo khoa học. Chỉ số trích dẫn (citation index) chứng tỏ công trình có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao.

Ông được mời làm chủ tịch 12 hội nghị quốc tế tổ chức ở phương Tây về đại số giao hoán, toán học rời rạc và tổ hợp, chỉ số chính quy, đối đồng điều địa phương. Năm 2009, ông được tặng Giải thưởng Nhân tài đất Việt.

Viện Toán học là nơi tập hợp nhiều nhà toán học hàng đầu nước ta, có tới 28 tiến sĩ khoa học, 39 tiến sĩ, 19 giáo sư, 22 phó giáo sư. Gần nửa thế kỷ qua, viện đã công bố hơn 1.400 công trình trên các tạp chí quốc tế, hơn 700 công trình trên 2 tạp chí của viện là Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics. Tính đến gần đây, đã có 7 luận án tiến sĩ khoa học và 121 luận án tiến sĩ được bảo vệ tại viện, hơn 200 thạc sĩ do viện đào tạo. Viện Toán học ở Hà Nội được TWAS đánh giá là một “viện xuất sắc” (institute of exellence) trong thế giới thứ ba.

Viện sĩ Ngô Việt Trung giữ chức Viện trưởng Viện Toán học trong 5 năm 2007-2013. Hiện nay, ông chuyển sang làm Phó chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về toán (Chủ tịch là GS Ngô Bảo Châu).
Hoàng Tụy và Ngô Việt Trung được thừa nhận rộng rãi là hai gương mặt tiêu biểu của giới toán học làm việc tại Hà Nội nhưng đạt thành tựu ngang tầm thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của hai nhà toán học Việt Nam tiêu biểu ấy – có phần ngẫu nhiên chăng? – cũng là hai “đồng hương xứ Quảng”, cùng quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, trên vùng đất Gò Nổi - Kỳ Lam, bên hai dòng sông Vu Gia và Thu Bồn, chứng tỏ một điều: Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, khi đất nước bị bao vây, cấm vận, nhà toán học vẫn có thể vươn lên tạo dựng sự nghiệp lỗi lạc của mình…

Và, như Bác Hồ đã viết trong lá thư riêng - do Bác tự tay đánh máy - gửi bác sĩ Tôn Thất Tùng đầu năm 1947, chẳng bao lâu sau cái đêm 19-12-1946, khi tiếng súng của các chiến sĩ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” nổ ran khắp phố hè thành Hoàng Diệu, từ Hàng Đào, Hàng Ngang cho đến Ngõ Gạch, chợ Đồng Xuân, ô Chợ Dừa, ô Cầu Dền. Bác viết: “Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền, cháu thảo”.
Vâng, Tổ quốc sẽ nhớ công những ai dấn thân gắn bó với núi Nùng, sông Nhị trong những năm tháng gian nan và hy vọng, “mỗi tấc đất ngày đêm bỏng giẫy / Mỗi lòng người như nước suối trong” (thơ Nguyễn Đình Thi)…

Hàm Châu, VNTPHCMO, 21-1-2014

Bình luận